Ai bảo kê cho chùa Ba Vàng “buôn Tăng bán Phật”?

https://baotiengdan.com/2019/03/25/ai-bao-ke-cho-chua-ba-vang-buon-tang-ban-phat/

Ai bảo kê cho chùa Ba Vàng “buôn Tăng bán Phật”?

BBT Tiếng Dân

25-3-2019

Hôm qua, báo Tiền Phong đưa tin, hàng trăm bài viết “gọi vong” và số tài khoản trên website chùa Ba Vàng biến mất. Bài báo cho biết, hiện nhiều thông tin được đăng tải trên trang web của chùa Ba Vàng, bao gồm hàng chục bài viết chủ đề “thỉnh oan gia trái chủ” bỗng nhiên biến mất. Ngoài ra, một số tài khoản ngân hàng để các tín đồ chuyển khoản cho các “vong hồn”, cũng như thanh toán “phí tâm linh” cho ngôi chùa này cũng không cánh mà bay.

Một điều quan trọng mà báo Tiền Phong không đề cập tới, là hình ảnh của các lãnh đạo cao cấp đã từng đến thăm chùa Ba Vàng cũng đã bị gỡ sạch khỏi trang web của ngôi chùa. Những hình ảnh của các lãnh đạo đảng và nhà nước, hiện còn đương nhiệm cũng như đã về hưu như ông Lê Khả Phiêu, cựu Tổng Bí thư Đảng CSVN; đương kim Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc; ông Phạm Minh Chính, Ủy Viên Bộ Chính Trị, Trưởng Ban Tổ Chức Trung Ương; ông Lê Hồng Anh, cựu Ủy viên Bộ Chính trị… chụp cùng sư trụ ngôi chùa này, tất cả đều bị biến mất khỏi website chùa Ba Vàng.

Một số người nhận định, các chức sắc chùa Ba Vàng phải cho gỡ bỏ những hình ảnh này là theo chỉ đạo từ “cấp trên”, bởi vì chùa này từ lâu có mối quan hệ mật thiết với các lãnh đạo cao cấp, từ trung ương đến địa phương.

Tài khoản YouTube Chùa Ba Vàng hiện vẫn còn lưu một video clip từ cuối năm 2012, ghi lại cảnh ông Phúc khi đó là Phó Thủ tướng, đã đến hành lễ tại chùa Ba Vàng cùng sư trụ trì Thích Trúc Thái Minh:

Video Player

00:00

02:44

Mặc dù phải dùng kế “án binh bất động”, cũng như tẩu tán các thông tin, hình ảnh trên website, thế nhưng chùa Ba Vàng “không thông báo dừng gọi vong”, Zing đưa tin. Nhà sư Thích Trúc Bảo Tiến, đại diện chùa phát biểu: “Nhà chùa chưa có bất kỳ phát ngôn nào về việc ngừng cúng oan gia trái chủ. Hiện chùa chưa tổ chức hoạt động này do chưa có lịch và cũng để nghe ngóng kết luận từ cơ quan quản lý. Nói chùa không gọi vong, cúng oan gia trái chủ nữa là sai”.

Thông Tấn Xã VN đưa tin, ngày 24/3/2019, UBND TP Uông Bí gửi công văn yêu cầu chấm dứt thỉnh vong, cúng oan gia trái chủ tại chùa Ba Vàng. Theo UBND TP Uông Bí, chuyện bà Phạm Thị Yến thuyết giảng về “thỉnh vong” đang “tiềm ẩn nguy cơ gây mất an ninh trật tự trên địa bàn, gây ra những bất bình trong dư luận nhân dân”, hoạt động “thỉnh vong”, “gọi hồn” ở chùa Ba Vàng “không có trong danh mục những hoạt động tôn giáo năm 2019 đã được đăng ký và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chấp thuận”.

Bài viết lưu ý: “Mỗi năm chùa Ba Vàng thu trăm tỉ đồng từ hoạt động này. Việc làm của chùa Ba Vàng đã khiến cộng đồng Phật tử, chức sắc tôn giáo cũng như các nhà nghiên cứu Phật học phẫn nộ và lên tiếng phản bác”.

Báo Dân Việt viết: Chùa Ba Vàng vắng khách bất thường, bà Phạm Thị Yến cũng vắng mặt. Một tài xế cho biết: “Từ hôm báo chí đăng bài về chùa Ba Vàng, hôm nay là ngày vắng khách nhất. Thường thường Chủ nhật khách thập phương đến chùa rất đông, nhưng hôm nay chỉ lèo tèo vài đoàn lẻ”.

***

Báo Dân Việt dẫn lời tướng Công an: Vụ “vong báo oán” ở chùa Ba Vàng có dấu hiệu hình sự. Thiếu tướng Lê Đình Luyện, cựu Cục trưởng Cục ANXH, cho biết: “Chuyện vong báo oán thì không diễn ra ở chùa Phúc Khánh và việc này không thể diễn ra ở Hà Nội được. Thời gian sau, nhà sư Thích Trúc Thái Minh về trụ trì chùa Ba Vàng mới có chuyện lình xình như báo chí đã phanh phui. Không rõ đằng sau nhà sư này còn có ai nữa hay không?”

Báo Đất Việt đặt câu hỏi: Kỷ luật Đại đức Thích Trúc Thái Minh ra sao? Không biết có kỷ luật nổi sư trụ trì chùa Ba Vàng hay không, vì hiện tại nhà chức trách vẫn còn chưa dám đụng tới bà Phạm Thị Yến, dù bà không nắm giữ một chức vụ nào cụ thể tại chùa Ba Vàng, mà chỉ là phật tử ở đây. Bà Yến là người đã nhục mạ cái chết của nữ sinh giao gà Cao Mỹ Duyên.

Chủ tịch UBND TP Uông Bí thừa nhận: “Vào ngày 22/3, tôi đã đề nghị Công an thành phố triệu tập bà Yến, tuy nhiên bên Công an họ phải làm quy trình nghiệp vụ. Hiện tôi chưa có thông tin từ phía Công an”.

Giáo hội Phật giáo tỉnh Quảng Ninh cho biết, “nhà sư” Thích Trúc Thái Minh là Ủy viên dự khuyết Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, “nên thuộc quản lý của Giáo hội Trung ương. Địa phương sẽ thực hiện theo hướng dẫn của Trung ương”.

Báo Đất Việt đặt câu hỏi: Bà Yến chùa Ba Vàng thỉnh vong vẫn không cứu được mẹ?Bà Phạm Thị Thúy, chị bà Yến kể: “Mẹ tôi chết oan vì lên chùa Ba Vàng lúc bệnh nặng. Trước đây, lúc khỏe mạnh, nghe theo lời chúng, mẹ tôi cũng giải oan gia trái chủ. Rồi bà bị tai biến, gia đình đã chữa ở Bệnh viện y học dân tộc”.

Người chị cho biết, trong lúc mẹ bà Yến chữa bệnh, bà Yến sai đệ tử đến bắt mẹ mình lên chùa, không cho uống thuốc, dẫn đến cái chết của người mẹ. Bà Thúy nói: “Thỉnh oan gia trái chủ rồi sao bà còn chết vì bệnh ung thư? Sống phải có tâm, lên chùa mà cầu được thì làm sao có nghĩa trang, nhà tù, bệnh viện“.

***

Cũng liên quan tới chùa Ba Vàng, một thành viên Bệnh viện Bạch Mai là BS Nguyễn Hồng Phong, là người đã “khuyên người dân lên chùa Ba Vàng (Uông Bí, Quảng Ninh) chữa bệnh sẽ khỏi khiến dư luận xôn xao”. Báo Người Đưa Tin có bài: BS bệnh viện Bạch Mai xuất hiện trong buổi thuyết giảng chùa Ba Vàng làm lệch lạc tâm lý người bệnh.

BS Trương Hữu Khanh bình luận: “Những ngày qua, tôi có biết thông tin sự việc xảy ra ở chùa Ba Vàng. Việc bác sĩ Nguyễn Hồng Phong nói có thể chữa khỏi bệnh khi đi chùa là vô căn cứ, ảnh hưởng đến tâm lý người bệnh”.

BS Nguyễn Hồng Phong, công tác tại bệnh viên Bạch Mai, là người xuất hiện trong buổi pháp thoại tại chùa Ba Vàng tối 21/3, gây xôn xao dư luận. Nguồn: NĐT

***

Trang VnExpress có clip, phân tích hơn 10 năm biến đổi quy mô của chùa Ba Vàng. Theo đó, “ban đầu chùa được xây dựng bằng gỗ, năm 1993 chùa được trùng tu, đến năm 2011 chùa được khởi công xây dựng với quy mô lớn kỷ lục”, từ năm 2003 đến 2019, diện tích của chùa này đã tăng hơn 20 lần:

Video Player

00:00

01:38

Vì sao chùa Ba Vàng có thể chiếm dụng hàng ngàn mét vuông đất, lấn rừng quốc gia, xây chùa thật to, rồi sau đó thực hành những hoạt động tâm linh, bá đạo, móc túi người dân hàng trăm tỉ mỗi năm, thế nhưng không có cơ quan chức năng nào dám đụng tới? Các lãnh đạo đảng và nhà nước nào đã bảo kê cho ngôi chùa này?

____

Một số hình ảnh của các lãnh đạo cao cấp đến thăm chùa Ba Vàng, hiện đã bị gỡ bỏ khỏi trang web của chùa:

Ông Phạm Minh Chính, Ủy Viên Bộ Chính Trị, Trưởng Ban Tổ Chức Trung Ương; ông Lê Hồng Anh, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, cùng phái đoàn đến thăm chùa Ba Vàng ngày 27/3/2016. Nguồn: Chùa Ba VàngÔng Phạm Minh Chính, Ủy Viên Bộ Chính Trị, Trưởng Ban Tổ Chức Trung Ương; ông Lê Hồng Anh, cựu Ủy viên Bộ Chính trị, từng là Thường trực Ban Bí thư Trung ương đảng CSVN, cùng các cấp lãnh đạo chính quyền địa phương đã đến thăm chùa Ba Vàng ngày 27/3/2016. Nguồn: Chùa Ba VàngLê Khả Phiêu, cựu Tổng Bí thư đảng CSVN và sư trụ trì chùa Ba Vàng. Ảnh: Chùa Ba Vàngông Ngô Văn Dụ, cựu Ủy viên Bộ Chính trị, cùng các lãnh đạo địa phương thăm chùa Ba Vàng năm 2017. Ảnh: Chùa Ba VàngÔng Ngô Văn Dụ, cựu Ủy viên Bộ Chính trị chụp ảnh cùng sư trụ trì Thích Trúc Thái Minh tại chùa Ba Vàng. Nguồn: Chùa Ba Vàng

____

Mời đọc thêm: Toàn cảnh vụ bê bối tại chùa Ba Vàng (VN Mới). – Tướng quân đội đề nghị xem xét làm rõ việc bà Phạm Thị Yến “xúc phạm anh hùng, liệt sĩ” (Kênh 14). – Quảng Ninh yêu cầu chùa Ba Vàng chấm dứt cúng vong (TP). – Đang xem xét xử lý các vi phạm tại chùa Ba Vàng (DV). – Kiểm điểm nghiêm khắc cá nhân liên quan đến ‘vong báo oán’ tại chùa Ba Vàng (TP).

TP.Uông Bí yêu cầu chấm dứt việc “thỉnh vong” và “cúng oan gia trái chủ” tại chùa Ba Vàng (NĐT). – Chùa Ba Vàng đột ngột ngừng ‘gọi vong, cúng oan gia trái chủ’? (VNN). – Chùa Ba Vàng mua quảng cáo Facebook nội dung oan gia trái chủ(Zing). – Vong báo oán ở chùa Ba Vàng: Chính quyền ở đâu? (TP). – Chuyên gia lý giải: Có hay không hiện tượng “vong báo oán”? (KT).

Bà Phạm Thị Yến bị nhắc nhở vì hành nghề mê tín dị đoan 10 năm trước (Zing). – Bà Phạm Thị Yến trong mắt những người thân quenLý do 40 tăng ni xin xuất chúng, bỏ đi khỏi chùa Ba Vàng (NLĐ). – Vụ ‘vong báo oán’ chùa Ba Vàng: Đòi ly hôn sau màn thỉnh vong (SS). – Hoạt động cúng oan gia trái chủ của chùa Ba Vàng là ‘trái phép (TN).

Phỏng vấn các “nhân chứng” xuất hiện trong buổi livestream tại chùa Ba Vàng(NĐT). – Thực hư bác sĩ BV Bạch Mai “khuyên” bệnh nhân lên chùa Ba Vàng chữa bệnh (VOV). – Bệnh viện Bạch Mai ngỡ ngàng với bác sĩ khuyên dân đến chùa Ba Vàng chữa bệnh (GDVN).

Đi chùa vì gì?!

https://baotiengdan.com/2019/03/25/di-chua-vi-gi/

Đi chùa vì gì?!

FB Ngô Nguyệt Hữu

25-3-2019

Đa phần đi chùa vì Tham. Ngay ý định ban đầu đi chùa là để mong được cái này hay cái kia rồi, khởi thuỷ đã tham thì làm sao mà không mê muội.

1. Ông làm quan to thì mong vững ghế, không bị ai dòm ngó, mong muốn được phước trên độ trì cho hoạn lộ được lên cao hơn nữa. Đi chùa lạy Phật kính trọng Sư xong về lại cấu kết trục lợi từ đất công, bảo kê cho thằng tội phạm này thằng tội phạm kia…

Đầu nghĩ việc xấu, tay làm việc không tốt, nhưng vẫn tin mình lạy Phật rồi, mình góp tiền xây chánh điện rồi, mình cúng tượng rồi… thế nào mình cũng được ban phước.

Phật nào ban phước cho kẻ xấu, Phật nào tiếp tay cho tham tàn.

2. Dân đi chùa thì xin sẽ được cái lợi về sau. Buôn bán thì đắt đường buôn bán, kinh doanh thì đắt đường kinh doanh.

Rời chùa một phát, lừa ai được thì lừa, gian dối ai được thì gian dối. Khuất mày khuất mặt thây kệ, miễn sao mình thu được cái lợi, ai không may ráng chịu.

May mắn thắng lợi đúng với dự tính thì tin rằng Phật linh ứng, xin phát Phật cho ngay. Lại thành một vòng luẩn quẩn, lại mang tiền lên chùa, vừa cúng dường vừa cúng tăng, lục độ đứng đầu bố thí. Cho ai cũng được mà cho tăng là tốt nhất.

Đến ông cho vay nặng lãi cũng đi chùa mà đến ông chém người không ngại tay cũng đi chùa.

Đi chùa về chém người vẫn cứ chém, cho vay vẫn cho vay. Xong tin rằng nhờ Phật độ nên mới làm ăn thuận lợi.

Phật nào độ cho kẻ ấy bao giờ.

3. Đại gia giàu có khét tiếng kiếp này, đi chùa để mong kiếp sau được sướng tiếp.

Ông rình rập xây nhà máy thép xả thải ra môi trường, ai chết kệ mày cũng lên chùa lạy Phật. Phật cho con được cấp phép xây xong nhà máy rồi con cúng cho Phật mấy cái tượng hộ pháp cho nhất thế giới.

Cúng tượng xong về xả thải ra sông ra biển, ai ô nhiễm chết kệ mày, tao ok là được rồi. Cúng Phật rồi sợ gì đứa nào nữa.

>>> Sư nhìn chúng sinh vậy sư mê lắm, lại càng giảng về nghiệp báo nhiều hơn, lại càng khuếch trương phước lành nếu ai mang tiền đến cho chùa nhiều hơn.

Ngay ban đầu đã muốn Tham thì lấy gì mà không Thâm, Sư rành đại chúng quá rồi, đại chúng nhắm mắt đến chùa thì tội gì Sư không chỉ thẳng vào tường cho đại chúng đâm đầu vào.

Chuyện kiếp trước kiếp sau có hay không thì ai mà biết, chỉ cần cúng dường nhiều ấy đã là công đức vô lượng vậy.

Sư nào mà tụ tập Phật tử cãi nhau lại với đám đông có clip, có livestream bao giờ, các anh chị chỉ giúp Hữu phát?!

Người lên chùa vì kính Phật thì ít, người lên chùa vì kính lợi ích của mình thì nhiều là vậy!

Tàu nhà Minh triệt tiêu văn hóa Đại Việt như thế nào?

https://baotiengdan.com/2019/03/24/tau-nha-minh-triet-tieu-van-hoa-dai-viet-nhu-the-nao/

Tàu nhà Minh triệt tiêu văn hóa Đại Việt như thế nào?

Phạm Cao Dương (*)

24-3-2019

(Chuyện cướp sách của ta đem về Kim Lăng)

Năm 2004 hiểm họa tái xâm lăng nước ta của người Tàu chưa lộ rõ và chưa thật sự nguy hiểm như trong năm 2012 và những năm sau này”.

Có điều người ta cần phải ghi nhớ là người Tàu luôn luôn kiêu căng, tự coi nước mình là một nước lớn là duy nhất văn minh, nằm ở giữa. Chung quanh họ đều là man di mọi rợ, Việt Nam hay Đại Việt đi chăng nữa cũng chỉ là man, Nam Man, cùng với Bắc Địch, Đông Di, Tây Nhung… nằm ngoài rìa của Hoa Hạ thời cổ, của Trung Hoa thời Dân Quốc, của Trung Quốc thời Cộng Sản hiện tại…”

Chuyện Nhà Minh xâm lăng nước ta và cướp sách của ta đem về Tàu xảy ra cách đây hơn sáu trăm năm bị nhiều người cho là không quan trọng. Thực sự đây là một mưu toan vô cùng thâm độc của người Tàu nhằm tiêu diệt dân tộc Việt mà người thường ít ai để ý đến, mà có để ý đến thì cũng khó nhận ra hay đã quá muộn.

Nó nằm trong “Mưu Độc Ngàn Năm” với lời nguyền “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” của Mã Viện gần hai ngàn năm trước và một lần nữa đã và đang trở thành một mối ưu tư và một đề tài vô cùng quan trọng cho những ai còn lưu tâm tới tiền đồ của đất nước và tương lai của con cháu mình cũng như trách nhiệm của mình đối với tổ tiên, đồng bào và hàng triệu người dân và chiến sĩ đã hy sinh trong cuộc chiến kéo dài ba mươi năm vừa qua.

Không lẽ tổ tiên mình đã thành công bảo vệ được dân tộc, giữ vững được đất nước mà đến đời mình lại bất lực và để mất hay sao? Không lẽ Các Cụ Ta đã thành công dìm “Cột đồng (của Mã Viện) chìm chín suối” và Hai Bà Trưng đã tạo dựng được “Bia đá rọi ngàn thu” để sang thế hệ chúng ta, chúng ta lại ngồi yên để sẽ ngậm ngùi tự hát cho mình mình nghe:

Để lại cho em này nước non mình.

Để lại cho em một nước đẹp xinh.

Một miền oai linh hiển hách.

Chỉ còn dư vang thần thánh.

Để lại cho em hèn kém của anh…

thay vì:

Người sau, kẻ trước lao vào địch,

Giữ vững nghìn thu một giống nòi.

hay sao? Xin để quý bạn đọc tùy nghi trả lời.

Đây là bài thứ hai trong loạt bài tác giả viết về “Mưu Độc Ngàn Năm” của người Tàu nhắm vào Dân Tộc Việt Nam sau bài nói về Cuộc Khởi Nghĩa của Hai Bà Trưng và Cột Đồng Đông Hán của Mã Viện kỳ trước.

Trong tháng 4 năm 2004, dưới nhan đề “Từ Lĩnh Nam Chích Quái Đến Các Tài Liệu Bị Quân Minh Tịch Thu Đem Về Tàu”, tôi có viết một bài về việc người Tàu tịch thu sách của ta. Vì bài viết quá ngắn và vì tôi không chỉ rõ các nguồn tài liệu nên sau đó nhiều người thắc mắc. Năm 2012, tôi đã viết thêm và năm nay 2019, tôi xin được viết thêm nữa. Đầu tiên tôi xin nói là năm 2004 khác với năm 2012 và năm 2019 lại khác hơn nữa. Năm 2004 hiểm họa tái xâm lăng nước ta của người Tàu chưa lộ rõ và chưa thật sự nguy hiểm như trong năm 2012 và những năm sau này. Cập nhật hóa và phổ biến những gì tôi thấy được cho bạn bè nói riêng và cho tuổi trẻ Việt Nam nói chung là một điều tôi thấy nên làm mặc dầu tôi vẫn muốn kiếm thêm tài liệu để viết nhiều hơn nữa dù đã ở trên đường tới tuổi chín mươi, tuổi bị kể như là quá già và sắp rời cõi tạm.

Thực sự thì sự quan tâm của tôi về chuyện người Tàu tịch thu hết các sách vở của ta đem đốt hết hay đem về Tàu đã có từ lâu. Thắc mắc nhưng đồng thời cũng là một nỗi ấm ức, bực bội, đau đớn, xót xa, tủi nhục, tiếc nuối, đặc biệt là mỗi khi tôi có việc phải tìm hiểu về hai thời Lý Trần, hai triều đại đã đóng góp rất nhiều cho vinh quang, thịnh vượng của xứ sở, nói chung và đặc sắc riêng cho văn hóa của dân tộc mình, nói chung. Tôi biết nỗi ấm ức, bực bội, đau đớn, xót xa, tủi nhục, tiếc nuối của tôi cũng là của chung dân tộc tôi, dù là tôi đang làm công chuyện tìm hiểu và nghiên cứu. Tôi cũng biết tìm hiểu và nghiên cứu là phải có cái đầu lạnh chừng nào hay chừng ấy, càng lạnh càng tốt, nhất là nghiên cứu về quá khứ, nhưng dù muốn hay không tôi vẫn là người Việt Nam.

Những gì tôi viết ra ở đây chỉ là một gợi ý và gợi ý về những sách vở và tài liệu liên hệ tới nước Đại Việt đương thời do chính người Đại Việt viết ngoài văn chương, thơ phú, còn có học thuật, tư tưởng, phong tục, tập quán, sử ký, địa lý, con người và tất nhiên gồm cả văn chương, thi ca…, những gì có thể giúp cho người thời đó và người sau này tìm hiểu về nước Đại Việt và dân tộc Đại Việt cũng như những thành công vĩ đại mà tổ tiên ta đã đạt được ngót ngàn năm trước.

Những sách vở, tài liệu này tôi tin là nhiều lắm, nhiều hơn là những gì ta hiện có, cộng thêm với những gì được liệt kê trong danh sách những sách đã mất mà các cụ ta sau này còn nhớ được và viết lại trong sử sách do các cụ viết.[1] Tôi dám tin là như vậy vì đây là cả một kho tàng tổ tiên ta đã tạo dựng được trong suốt bốn trăm năm thịnh trị nhất của lịch sử dân tộc mình. Tôi cũng dám tin như vậy căn cứ vào bài tựa của Việt Âm Thi Tập, sưu tập thơ của thời Lý-Trần và thời Lê Sơ do Phan Phu Tiên khởi đầu và Chu Xa thực hiện, Lý Tử Tấn đề tựa. Cả ba đều là người đương thời, từ đó những sự hiểu biết của các ông còn rất nóng, chưa đến nỗi bị thời gian làm cho hao mòn.

Phan Phu Tiên đậu Thái Học Sinh năm 1396 đời Vua Trần Thuận Tông, Lý Tử Tấn đậu đồng khoa Thái Học Sinh với Nguyễn Trãi, khoa Canh Thìn (1400) triều Nhà Hồ, còn Chu Xa thì trẻ hơn một chút vì sách được soạn xong năm 1459 dưới triều Vua Lê Nhân Tông, tiếp nối công trình của Phan Phu Tiên hoàn thành năm 1433, niên hiệu Thuận Thiên triều Vua Lê Thái Tổ, nên những gì các ông biết về sách vở, thi ca của hai Triều Lý và Trần phong phú đến mực nào cũng như hành động tịch thu sách của không thể nào tàn bạo hơn của Nhà Minh là như thế nào. Lý Tử Tấn trong bài tựa của Việt Âm Thi Tập cho biết là sau cơn binh lửa, số thơ còn lại chỉ được một hai phần nghìn. Nguyên văn như sau:

“… Như các vua Triều Trần là Thánh Tông, Nhân Tông, Minh Tông, Nghệ Tông, cùng là Chu Tiều Ẩn tiên sinh (Chu An), các ông họ Phạm ở Hiệp Thạch (Phạm Sư Mạnh), họ Lê ở Lương Giang (Lê Quát), Nguyễn Giới Hiên (Nguyễn Trung Ngạn) và anh em ông Phạm Kính Khê (Phạm Tông Mại, Phạm Ngộ) đều có tập thơ riêng lưu truyền ở đời. Về sau, vì binh lửa, số thơ còn lại chỉ được một hai phần nghìn”. [2]

Điều cần phải để ý là đây mới chỉ là về thơ văn mà thôi. Những tài liệu khác liên quan tới sự tìm hiểu về nền văn hiến của nước Đại Việt dưới hai thời Lý Trần trước đó có thể ít hơn về số lượng nhưng quan trọng hơn nhiều cho các học giả sau này.

Sự thịnh trị này đã được chính Minh Thái Tổ ghi nhận khi ông ban cho sứ thần của ta bốn chữ Văn Hiến Chi Bang vào năm 1368 [3] và Trần Nguyên Đán (1325 – 1390), cha vợ của Nguyễn Phi Khanh hay ông ngoại của Nguyễn Trãi đã miêu tả qua câu thơ bất hủ “Triệu tính âu ca lạc thịnh thì” (trăm họ vui ca mừng thời thịnh trị) [4] và người lính già đầu bạc thời Trần Nhân Tông còn thỉnh thoảng ngồi kể chuyện thời Nguyên Phong:

“Bạch đầu quân sĩ tại,

Vãng vãng thuyết Nguyên Phong”

Lính già phơ tóc bạc

Kể chuyện thuở Nguyên Phong

(Ngô Tất Tố dịch) [5]

Cái gì đã làm cho Đại Việt là một nước văn hiến? Cái gì đã làm cho trăm họ Đại Việt “Âu ca Lạc thịnh thì”? Cái gì đã làm cho người lính già phơ tóc bạc ngồi kể chuyện thuở Nguyên Phong? Cái gì đã làm cho một nước nhỏ bằng bàn tay [6] thắng được quân nhà Tống và luôn cả quân Mông Cổ, điều Thiên Triều, thượng quốc của người Việt trong nhiều thế kỷ và luôn cả sau này, tôi muốn nói là chính nước khổng lồ Trung Quốc, không làm được? Cái gì đã làm cho Hồ Nguyên Trừng được Hoàng Đế Nhà Minh biết tới và trọng dụng? Đó phải là những câu hỏi mọi người nghiên cứu về triều đại này phải tìm hiểu để trả lời và đương nhiên cả người nhà Minh, trong đó có Minh Thành Tổ khi chủ trương xâm lăng và đô hộ nước ta cũng muốn tìm hiểu.

Chính vì vậy, những sách vở do người Đại Việt đương thời biên soạn hay sáng tác chắc chắn phải là những nguồn hiểu biết vô cùng quan trọng về đất nước và con người Đại Việt mà những ai, kể cả người Tàu đương thời, có nhu cầu tìm hiểu hay chỉ vì vì tò mò, cũng muốn có được trong tay để đọc và lưu giữ thay vì nhắm mắt đốt bỏ hết. Đó là lý do tại sao hai sắc chỉ ban đầu của Minh Thành Tổ đã không được triệt để thi hành. Nếu quả như vậy thì phần nào những sách vở, tài liệu này vẫn chưa bị mất và vẫn còn nằm đâu đó bên Tàu, dưới hình thức này hay hình thức khác, nếu kiên trì tìm kiếm và có phương pháp tìm kiếm, người ta vẫn có thể thấy lại được. Tất nhiên là với tất cả sự dè dặt và kiên trì tối thiểu mà một nhà sưu tầm, khảo cứu cần phải có.

Ý được gợi ra nhưng câu trả lời đầu tiên được ghi nhận gần như là không, vì nếu cứ nhất định căn cứ vào tài liệu của thời đó để lại thì làm gì có chuyện người Tàu lấy sách của ta đem về Tàu. Minh Thành Tổ trong hai đạo sắc dụ của ông có hạ lệnh cho tướng lãnh, quân binh của ông đem về Tàu đâu. Câu trả lời của tôi là căn cứ vào các sách sử của ta. Tôi có thể chưa có dịp đọc hết các sách vở, tài liệu có thể chứa những chi tiết về chuyện này, nhưng trong Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, chính sử của nhà Nguyễn, một tác phẩm không do một người mà do nhiều người thuộc Quốc Sử Quán đương thời do Phan Thanh Giản làm Tổng Tài biên soạn, và trước đó, Lê Quý Đôn (1726 – 1784) trong Lê Triều Thông Sử đã viết rất rõ điều này.

Trước hết, trong Lê Triều Thông Sử, phần “Nghệ Văn Chí”, Lê Quý Đôn có viết: “Đến đời Nhuận Hồ mất nước, tướng nhà Minh là Trương Phụ lấy hết sách vở cổ kim của ta gửi theo đường sông về Kim Lăng”. [7] Nên để ý ba chữ “theo đường sông” tác giả dùng để nói rõ chi tiết về cách chở về Kim Lăng ở đây chứ không nói chung chung. Còn trong KĐVSTGCM, phần Chính Biên, quyển XXXIII, sau phần nói về việc vua nhà Minh cho in các sách Tứ Thư, Ngũ Kinh và Tính Lý Đại Toàn và sai Giám Sinh Đường Nghĩa sang nước ta ban phát cho những người Nho học, một cách khẳng định, có chép thêm “Còn các sự tích và sử sách của nước ta từ đời Trần trở về trước đều tịch thu đưa về Kim Lăng”. [8]

Gần ta hơn, Trần Quốc Vượng, giáo sư sử học thuộc Viện Đại Học Quốc Gia Hà Nội, trong tuyển tập nhan đề Văn Hóa Việt Nam, Tìm Tòi và Suy Gẫm cũng viết:

Cướp được nước ta, trong 20 năm trời bên nền đô hộ hà khắc về chính trị, vơ vét tham tàn về kinh tế, giặc Minh đã thi hành một chính sách hủy diệt độc ác về văn hóa, giặc Minh đã quyết tâm đập cho tan nát những cơ cấu văn hóa dân tộc xây dựng suốt hơn 400 năm, chủ yếu dưới thời Lý – Trần. Vua Minh đã trực tiếp ra mật lệnh cho bọn tướng xâm lăng khi tiến quân vào nước ta, thấy bất cứ cuốn sách vở nào, gặp bất cứ tấm bia đá nào đều phải thiêu hủy, đập phá hết. Tên tướng Trương Phụ lượm lặt hết các sách vở cổ kim của ta, đóng thùng chở về Kim Lăng. Tháng 7 năm Mậu Tuất (1418), nhà Minh còn sai tiến sĩ Hạ Thì và hành nhân Hạ Thanh sang tìm tòi và thu lượm tất cả những sách chép về lịch sử và sự tích xưa nay do người Việt viết. Năm 1419, nhà Minh lại cho người đem sách Khổng giáo, Đạo và Phật giáo của Trung Quốc sang thay thế cho những sách trước kia chúng lấy đi. Chính sách hủy diệt văn hóa thâm độc đó đã phá hoại gia tài văn hóa, tinh thần của dân tộc ta không phải là ít. Nếu không, cái gia tài văn hóa, văn học tư tưởng thời Lý Trần để lại sẽ phong phú biết chừng nào!” [9]

Tất nhiên các nhà nghiên cứu thận trọng có thể nói rằng những ghi chú kể trên đều là bởi những người của nhiều thế kỷ sau này viết nên vẫn chưa đủ thuyết phục, và ta vẫn cần phải có thêm bằng chứng. Thực sự thì ta không biết Lê Quý Đôn rồi sau này các nhà san định bộ Khâm Định Việt Sự Thông Giám Cương Mục đã căn cứ vào đâu để ghi chép như trên. Có thể các vị sau này đã căn cứ vào Lê Quý Đôn còn Lê Quý Đôn thì căn cứ vào những gì ông đọc được và nghe được từ những người của thời trước ông, trong đó không thể không có Lý Tử Tấn.

Chúng ta cần ghi nhớ là Lê Quý Đôn là người chịu khó tìm tòi, học hỏi. Ông đã đọc rất nhiều, rất rộng và ghi chép rất cẩn thận. Chỉ cần đọc các tác phẩm của ông người ta thấy rõ điều này. Còn Trần Quốc Vượng thì đã không nêu rõ các nguồn sử liệu ông đã dùng. Nhưng sử gia này cũng là người làm việc rất tỉ mỉ và có phương pháp nên chắc chắn đã không đưa ra những ghi nhận về sự kiện kể trên một cách hồ đồ vô căn cứ. Dù sao, một khi nghi vấn đã được đưa ra, ta vẫn cần phải truy tầm vừa bằng tài liệu nếu có và vừa bằng suy luận cặn kẽ chừng nào hay chừng nấy.

Trước hết ta hãy đọc lại những phần chính liên hệ tới vấn đề sách vở của người Việt trong ba sắc chỉ của Minh Thành Tổ được ghi trong Việt Kiệu Thư, được dịch và in lại trong Thơ Văn Lý Trần, một công trình được thực hiện bởi những nhà nghiên cứu có uy tín và đáng tin cậy của Việt Nam trong thế kỷ XX trước, để thấy lại phần nào chi tiết liên hệ, nhất là sắc chỉ thứ hai, ban hành vào ngày 16 tháng 6 năm 1407, theo đó thì vị Hoàng Đế Trung Hoa này đã nhiều lần bảo các tướng sĩ của ông ta là phải hủy diệt lập tức những sách vở của người Việt này, nhưng các tướng lãnh của ông đã không ra lệnh đốt ngay, lại để xem xét rồi mới đốt. Còn quân lính thì phần đông không biết chữ… thì khi “đài tải” sẽ bị mất mát nhiều [10].

Tại sao lại “đài tải”? Tại sao lại lo mất mát nhiều? Tại sao lại để xem rồi mới đốt?

Đến sắc chỉ thứ ba ban hành ngày 24 tháng 6 năm 1407, Minh Thành Tổ lại ra lệnh cho các tướng lãnh của ông phải cấp tốc thu hồi những văn kiện ông ban hành từ trước: “Nay An-nam đã bình định xong […] trừ các loại chế dụ ra, còn thì tất cả các đạo sắc viết tay và các ký sự thư thiếp, đã từng phát đi từ trước, cùng với sổ ghi chép mà Thành Quốc Công đã lĩnh hoặc các thứ [sổ sách] trù nghị mọi chuyện, đều phải đem toàn số kiểm kê, đối chiếu, niêm phong cẩn mật, gửi trả lại, không cho lưu lại một chữ. Nếu có một chữ bỏ lại rơi vào tay bọn kia thì rất bất tiện”. [11] thì người ta thấy sự kiện đã quá rõ rệt là lệnh của vua Nhà Minh đã không được triệt để thi hành và các sách vở quân Minh thu được đã không bị đốt bỏ hết.

Một số khác trên đường đài tải đã bị mất mát rất nhiều. Ngoài ra, ngoài ba dụ chỉ hiện được người ta biết tới, chắc chắn còn nhiều văn kiện tối mật khác hoặc đã được niêm phong gửi lại Triều Đình Kim Lăng, hoặc đã bị hủy bỏ trong thời điểm này. Chúng chứa đựng những gì hiện tại chúng ta chưa biết được và có thể không bao giờ biết được nhưng người ta có thể chắc chắn là chúng chứa đựng rất nhiều chi tiết liên quan tới đường lối thâm độc của nhà Minh trong thời gian này, nếu không tại sao Minh Thành Tổ lại thêm câu cuối “Nếu có một chữ bỏ lại rơi vào tay bọn kia thì rất bất tiện”. Đây mới là điểm quan trọng của vấn đề. Tại sao Minh Thành Tổ lại sợ đến như vậy?

Do đó nếu chúng ta chỉ căn cứ vào sắc chỉ thứ nhất (được nói tới trong Thơ Văn Lý-Trần), ban hành ngày 21 tháng 8 năm 1406, cho Chu Năng kể trên, mà bảo rằng không hề có chuyện người Minh đem sách vở của ta về Tàu, tôi e rằng quá máy móc và vội vã. Chúng ta chỉ có thể biết rõ hơn chừng nào kiếm ra được những tài liệu mật này. Đây gần như là một việc mò kim đáy biển. Tuy nhiên còn có những lý do khác khiến ta có thể viện dẫn được.

Thứ nhất là tính tò mò của các tướng sĩ nhà Minh, một tính tự nhiên và phổ quát của con người mà họ không tránh được, đặc biệt ở những người có học khi họ kiếm được những sách nói về những điều họ đã học và muốn biết. Ở đây tôi muốn nói tới các sách về Tam Giáo, đặc biệt là sách của Hồ Quý Ly [12] và của Chu Văn An [13], cộng thêm nhu cầu cần biết để xâm lăng, bình định và cai trị, chưa kể tới hoàn cảnh họ phải sống xa triều đình và xa nhà. Các tướng sĩ trong ban tham mưu của Chu Năng và sau này của Trương Phụ và các nhà hành chánh sau này nữa chắc chắn phải thu thập bất cứ tài liệu gì họ thu thập được, phân tích nghiên cứu chúng một cách tỉ mỉ để hiểu rõ kẻ địch của họ và của dân bản địa mà họ phải bình định và cai trị. Nghiên cứu rồi sau đó đem theo mình và giữ lại làm của riêng là một việc làm tự nhiên của họ; còn triều đình nhà Minh thì ở quá xa, làm sao có thể hiểu rõ những nhu cầu này và theo dõi chặt chẽ được, chưa kể tới chuyện ra lệnh chỉ là bề ngoài để che mắt mọi người.

Câu hỏi kế tiếp người ta có thể nêu lên là cho đến những ngày hiện tại đã có tác phẩm nào của người Việt sau nhiều thế kỷ luân lạc đã được người ta khám phá ra dưới hình thức này hay hình thức khác chưa? Câu trả lời là có. Đó là Việt Sử Lược và Thiền Uyển Tập Anh. Hai cuốn sách này xuất hiện từ thời nhà Trần và đã được người sau chép hay viết lại.

Việt Sử Lược đã bị thất truyền rất lâu, mãi đến thời Càn Long nhà Thanh (1736 – 1795) mới được đem in, nói là theo bản của Tuần Phủ Sơn Đông thu nhặt được đem dâng lên vua với người hiệu đính là Tiền Hi Tộ, người Giang Tô, người đã san định bộ Thủ Sơn Các Tùng Thư.

Việt Sử Lược được lưu trữ ở Thủ Sơn Các Tùng Thư và ở Khâm Định Tứ Khố Toàn Thư của nhà Thanh và đã được nhiều nhà xuất bản Trung Quốc ấn hành. Tác phẩm này đã được Giáo Sư Trần Quốc Vượng phiên dịch sang Việt ngữ, giới thiệu và chú giải.[14]

Trong bản dịch của ông, Trần Quốc Vượng có nói tới Thiền Uyển Tập Anh khi ông bàn về việc các người họ Lý bị đổi thành họ Trần, nhưng đến Lê Mạnh Thát thì sau khi đối chiếu nội dung của Thiền Uyển Tập Anh với An Nam Chí Nguyên, nhà học giả Phật Giáo uyên thâm này đã khẳng định là: “Khi quân Minh đánh chiếm được nước ta vào năm 1407, Thiền Uyển Tập Anh đã bị chúng thu gom và sau này được dùng một phần để viết An nam chí nguyên”. [15]

CHUYỆN NGÀY NAY

Trên đây là những gì tôi ghi tạm để cấp thời chia sẻ với mọi người, đặc biệt là giới trẻ khi hiểm họa mất nước của dân tộc ta trước những toan tính ngàn năm, vừa công khai, vừa tiệm tiến và vô cùng thâm độc của người Tàu đang diễn ra ở cả ngoài biển đảo lẫn trên đất liền, ở dọc biên giới với những khu rừng đầu nguồn, trên cao nguyên cũng như dưới đồng bằng dọc theo bờ biển từ Móng Cái đến Cà Mau, đối với đất đai cũng như đối với con nguời Việt Nam.

Mưu độc ngàn năm với lời nguyền “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” của Mã Viện một lần nữa đã trở thành một mối ưu tư và một đề tài vô cùng nóng hổi cho những ai còn lưu tâm tới tiền đồ của tổ quốc và tương lai của con cháu mình cũng như trách nhiệm của mình đối với tổ tiên, đồng bào và hàng triệu chiến sĩ ở cả hai bên đã hy sinh trong cuộc chiến kéo dài ba mươi năm vừa qua nhân danh bảo vệ đất nước.

Bài viết, do đó, chắc chắn còn nhiều thiếu sót và sơ hở. Tôi sẽ xin bổ túc khi có dịp. Riêng về giá trị văn chương của thi phú của ta so với của Tàu thì tôi không dám lạm bàn vì sự hiểu biết và khả năng của tôi về khía cạnh này không đủ, vả lại đó không phải là loại tài liệu mà các tướng lãnh và các nhà cai trị người Minh quan tâm, nhất là loại thơ văn lãng mạn, tình cảm cá nhân. Nếu tôi có đọc các tác phẩm thuộc loại này thì chỉ là để tìm hiểu về các thời kỳ hay các nhân vật liên hệ tới lịch sử mà thôi.

Điều tôi muốn nói lên ở đây là nếu người Tàu có làm chuyện hủy diệt hay chép lại rồi đề tên bất cứ người nào khác hay viết lại hay đạo văn của ta, nếu có, khi họ xâm lăng nước ta vào đầu thế kỷ XV với chủ trương chính yếu của họ là nhằm triệt tiêu khả năng tinh thần, lòng tự tin và nguồn hãnh diện của dân tộc ta để phòng ngừa hậu họa, đồng thời giữ cho nước Tàu vị thế độc tôn, trung tâm của thế giới văn minh, không phải chỉ ở thời điểm xâm lăng hay đô hộ mà vĩnh viễn sau này nữa. Thơ văn chỉ là một phần nhỏ. Đây là một chính sách vô cùng tàn độc nếu ta dùng từ ngữ chung của nhiều người khi nói tới hay viết về giai đoạn lich sử này của dân tộc và của đất nước ta.

Một chính sách không phải chỉ phát xuất từ tham vọng Đại Hán mà còn có thể được coi như phản ảnh của một mặc cảm, một sự sợ hãi lo âu trước sự thành công không thể ngờ được của Đại Việt trước sự thất bại của Thiên Triều Trung Quốc, một chính sách và một hành vi nếu được thực hiện vào thời điểm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI hiện tại, quốc gia chủ trương sẽ phải chính thức và long trọng xin lỗi, coi như đã phạm một tội ác đối với nhân loại. Có điều người ta cần phải ghi nhớ là người Tàu luôn luôn kiêu căng, tự coi nước mình là một nước lớn là duy nhất văn minh, nằm ở giữa. Chung quanh họ đều là man di mọi rợ, Việt Nam hay Đại Việt đi chăng nữa cũng chỉ là man, Nam Man, cùng với Bắc Địch, Đông Di, Tây Nhung… nằm ngoài rìa của Hoa Hạ thời cổ, của Trung Hoa thời Dân Quốc, của Trung Quốc thời Cộng Sản hiện tại… Bao nhiêu tài nguyên, của cải quý báu nhất từ vật chất đến tinh thần trong thiên hạ là phải được tập trung hết về tay họ. Những chiến thắng của người Việt trong các thời Lý Trần, đặc biệt là chiến thắng chống quân Mông Cổ trong khi người Tàu thực hiện không nổi là những gì họ không thể chấp nhận được.

Còn nếu vị Hoàng Đế sáng lập nên Triều Đại Nhà Minh là Minh Thái Tổ ban cho sứ Đại Việt bốn chữ Văn Hiến Chi Bang, vô tình ông đã mở đầu khai tử cả một nền văn hóa riêng của Đại Việt mà đao phủ là hậu duệ của ông, Minh Thành Tổ. Là người sáng lập nên một triều đại mới, Minh Thái Tổ có thể có một cái nhìn rộng rãi bao dung nhưng những người kế vị ông coi đó là một sự xúc phạm đến thiên triều khi chính tình của nhà Minh đã ổn định. Cuối cùng ta cũng không nên quên là kiêu căng nhưng người Tàu vẫn luôn mở cửa để thu góp chất xám từ các xứ chung quanh bằng cách đòi hỏi các xứ này phải cống những người tài giỏi khi các nước này còn độc lập hoặc ruồng bắt những người này khi các nước họ bị xâm lăng hay đô hộ đem về Trung Quốc.

Điều này đã xảy ra trong thời quân Minh xâm lăng nước ta khi vua Minh hạ lệnh cho Trương Phụ và các tướng tá của ông này phải “tìm tòi dò hỏi những người ẩn dật ở núi rừng, có tài, có đức, thông suốt năm kinh, văn hay, học rộng, thạo việc, am hiểu thư toán, nói năng hoạt bát, hiếu đễ, chăm làm ruộng, tướng mạo khôi ngô, gân sức cứng rắn, cùng những người hiểu biết nghề cầu cúng, làm thuốc, xem bói, đều đưa sang Kim Lăng, sẽ trao cho quan chức, rồi cho về trấn trị các phủ, châu huyện”.[16] Lệnh này phải được hiểu xa hơn là nhằm thâu góp nhân tài của Đại Việt để phục vụ cho thiên triều ở Trung Quốc hơn là để sau này cho về phục vụ trong ngành hành chánh ở Đại Việt vì nếu cho họ phục vụ ngay tại Đại Việt, cần gì phải đưa họ về Kim Lăng, đường xá vừa xa xôi, vừa tốn kém, vừa nguy hiểm. Đưa về phục vụ ở Đại Việt chỉ là miếng mồi không hơn, không kém, giữ họ lại Trung Quốc để khai thác mới là chính.

Một trường hợp điển hình cho chính sách tom góp và thu dụng nhân tài của nhà Minh đương thời là trường hợp của Hồ Nguyên Trừng, con trưởng của Hồ Quý Ly. Bị bắt đưa về Tàu nhưng Nguyên Trừng đã không bị ghép tội và bị xử cực hình vì ông đã bằng lòng đem tài riêng của mình, tài chế súng thần cơ, và sự hiểu biết của mình về tình hình Đại Việt ra giúp cho nhà Minh hay cung cấp cho nhà Minh những chỉ dẫn cần thiết để diệt nhà Hậu Trần. Trái lại, ông đã được trọng dụng, làm quan đến chức á khanh, công bộ tả thị lang và đã được pháo binh Trung Quốc thời đó kính trọng để sau này coi như là thánh tổ của họ. Chưa hết, không lâu trước đó, năm 1385, thời Trần Đế Hiện, năm Xương Phù thứ 9, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục có ghi sứ thần Nhà Minh sang yêu cầu ta dâng nộp các nhà sư với các chi tiết như sau:

Trước đây, ta đưa sang nhà Minh những hoạn quan là bọn Nguyễn (Tông) Đạo và Nguyễn Toán. Nhà Minh dùng họ làm chức nội quan, đối xử rất hậu. Nguyễn (Tông) Đạonhân nói với vua Minh rằng: Phép thuật sư Nam giỏi hơn sư Bắc (Trung Quốc). Đến đây, Minh sai sứ sang yêu cầu. Nhà vua sai tuyển lấy 20 vị sư đưa sang Kim Lăng.[17]

Chưa hết, năm sau, 1386, cũng nghe Nguyễn Tông Đạo nói nước ta có nhiều cây quý, Nhà Minh lại sai Lâm Bột sang yêu cầu dâng nộp. “Nhà vua lại sai viên ngoại lang là Phạm Đình đưa sang các cây : cau, vải, nhãn và mít, nhưng các cây ấy không quen chịu lạnh , dọc đường, đều chết hết cả”. Sau đó “Nhà Minh lại sai Lý Anh sang hỏi nhờ đường nước ta để đi đánh Chiêm Thành và đòi 50 thớt voi nữa. Ta bèn sắp xếp từ Nghệ An đổ ra , cứ theo dọc đường , dựng các cung trạm, chứa sẵn lương thảo, luân chuyển đưa đến Vân Nam”. [18]

Tưởng cũng nên biết thêm là do vị trí địa lý, ngay từ thời Bắc thuộc, Giao Châu đã là nơi Phật Giáo phát triển rất sớm và rất mạnh. Các sư người Giao Châu như Mộc Xoa Đề Bà, Khuy Sung Pháp Sư, Huệ Diêm Pháp Sư, Trí Hành Thiền Sư, Đại Thặng Đăng Thiền Sư… đã sang tận Ấn Độ, Tích Lan để học hỏi và nghiên cứu; Nhật Nam Tăng sang trụ trì một ngôi chùa trong hang núi bên Tàu và được thi hào Trương Tịch tặng thơ, Vô Ngại Thượng Nhân được thi hào Thẩm Thuyên Kỳ làm thơ để tỏ lòng kính mộ. Phụng Đình Pháp Sư và Duy Giám Pháp Sư sang Trung Quốc giảng kinh trong cung vua Đường, khi về được thi hào Dương Cự Nguyên và Cổ Đảo làm thơ tiễn biệt. Nhận xét về những sự kiện này, Thượng Tọa Mật Thể viết:

Tăng già Annam mà được sang giảng kinh ở cung vua cũng là một sự hiếm có, mà bấy giờ bên Trung Quốc đời Đường Phật giáo đương hồi thạnh, hẳn không thiếu gì cao tăng mà Tăng già ta được dự vào việc giảng kinh, kể cũng là một điều chứng nhận vẻ vang cho lịch sử Phật giáo Việt Nam vậy. [19]

Đồng thời để giải thích sự phát triển này Thượng Tọa viết thêm: Nước ta thời ấy làm trung gian cho Tàu và Ấn Độ lại có cái lợi này: hồi ấy dân Chàm còn mạnh lại ở gần ta, họ lại dùng chữ Phạn làm văn tự và thông hiểu cả tiếng Qua Oa (Java), nên ta cũng có nhiều người giao thiệp với họ, cũng hiểu hai thứ chữ đó. Bởi thế những người Tàu qua Ấn Độ và người Ấn Độ qua Tàu, khi tới Giao châu, thường tìm người nước ta làm thông ngôn hoặc cộng tác dịch kinh chữ Phạn. Như vậy ta không nên ngạc nhiên khi thấy nhiều kinh điển về bản cựu dịch hoặc tân dịch đều dịch lần đầu tại Annam.

Nói cách khác, người Tàu luôn luôn có chính sách thu góp mọi thứ từ các xứ chung quanh về làm giàu cho xứ họ. Đối với họ, nước họ phải là nhất, các nước chung quanh không được phép hơn họ. Do đó cái gì có giá trị họ thu góp hết, trong đó có sự hiểu biết, có sách vở, có các sản phẩm nghệ thuật, có văn chương, thơ phú… Thu góp và để nguyên như vậy hay sửa đổi đi nhưng tất cả đều phải trở thành di sản văn hóa riêng của họ, điều sau này họ tiếp tục làm, người Nhật cũng làm và người Mỹ, người Anh, người Pháp cũng làm; nhưng không thời nào, không người nào có mưu toan thâm độc và tàn bạo như người Tàu dưới thời nhà Minh xâm lăng Đại Việt. Hậu quả là từ sau thời Minh Thuộc, Người Việt không bao giờ có được những vinh quang đáng nể đối với người ngoài, lòng tự tin và niềm hãnh diện cho chính mình như thời trước đó nữa.

Thay cho kết luận

Chuyện Nhà Minh xâm lăng nước ta và cướp sách của ta đem về Tàu xảy ra cách đây hơn sáu trăm năm bị nhiều người không cho là quan trọng. Thực sự đây là một mưu toan vô cùng thâm độc của người Tàu nhằm tiêu diệt người Việt mà người thường ít ai để ý đến, mà có để ý đến thì cũng khó nhận ra và đã quá muộn.

Nó nằm trong “Mưu Độc Ngàn Năm” với lời nguyền “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” của Mã Viện gần hai ngàn năm trước và một lần nữa đã và đang trở thành một mối ưu tư và một đề tài vô cùng quan trọng cho những ai còn lưu tâm tới tiền đồ của đất nước và tương lai của con cháu mình cũng như trách nhiệm của mình đối với tổ tiên, đồng bào và hàng triệu người dân và chiến sĩ đã hy sinh trong cuộc chiến kéo dài ba mươi năm vừa qua.

Không lẽ tổ tiên mình đã thành công bảo vệ được dân tộc, giữ vững được đất nước mà đến đời mình lại bất lực và để mất hay sao? Không lẽ Các Cụ Ta đã thành công dìm “Cột đồng (của Mã Viện) chìm chín suối” và Hai Bà Trưng đã tạo dựng được “Bia đá rọi ngàn thu” [20]để sang thế hệ chúng ta, chúng ta lại ngồi yên để sẽ ngậm ngùi hát cho mình mình nghe:

Để lại cho em này nước non mình.

Để lại cho em một nước đẹp xinh.

Một miền oai linh hiển hách.

Chỉ còn dư vang thần thánh.

Để lại cho em hèn kém của anh [21]

thay vì:

Người sau, kẻ trước lao vào địch,

Giữ vững ngìn thu một giống nòi. [22]

hay sao? Xin để quý bạn đọc tùy nghi trả lời.

Phạm Cao Dương

Khởi viết Tháng Tư 2004, sửa lại nhằm kỷ niệm Ngày Giỗ Trận Đống Đa, Nhâm Thìn 2012. Cập nhật hóa Xuân 2019

Xin chú ý: Đây là bài thứ hai trong loạt bài tác giả viết về “Mưu Độc Ngàn Năm” của người Tàu nhắm vào Dân Tộc Việt Nam sau bài nói về Cuộc Khởi Nghĩa của Hai Bà Trưng và Cột Đồng Đông Hán của Mã Viện kỳ trước.

(*) Giáo sư, Tiến sỹ Lịch sử.

[1] Dựa theo phần “Văn Tịch Chí”, trong Lịch Triều Hiến Chưong Loại Chí của Phan Huy Chú, các nhà san định bộ Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục liệt kê các tác phẩm “mà người Minh tịch thu mất” như sau:

Tất nhiên đây chỉ là những tác phẩm được tập trung lại thành sách. Chỉ cần đối chiếu với danh sách các tác phẩm được Lê Quý Đôn ghi trong phần “Nghệ Văn Chí” thuộc tác phẩm Đại Việt Thông Sử người ta thấy còn nhiều sách khác đã bị mai một mà các cụ đã bỏ qua không ghi ra hết, chẳng hạn như Hoàng Tông Ngọc Diệp, 1 quyển, soạn năm thứ 17 đời Lý Thái Tổ (1026); Quốc Triều Thông Chế , 20 quyển,soạn trong thời Trần Thái Tông, Công Văn Cách Thức thời Vua Trần Anh Tông, năm 1299 , Nam Bắc phân Giới Địa Đồ, thời Vua Lý Anh Tông, năm 1147… Còn nhiều tài liệu rời thuộc các sinh hoạt chính trị, hành chánh, giáo dục, văn chương, thi ca… có giá trị khác cũng đã bị tiêu hủy hay bị Quân Minh lấy mất, tiêu hủy hay đem về Tàu. Xin xem thêm: Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, Tập Một, bản dịch của Viện Sử Học, Trung Tâm Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn Quốc Gia. Hà Nội: Nhà Xuất Bản Giáo Dục, 1998, tr. 765-767; Lê Quý Đôn, Lê Quý Đôn Toàn tập, Tập III, Đại Việt Thông Sử,bản dịch ncủa Ngô Thế Long. Hà Nội: Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội, 1978, tr. 103-113; Lệ ThầnTrần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược. Saigon: Bộ Giáo Dục, Trung Tâm Học Liệu, 1971, tr. 212-213.

[2] Trần Văn Giáp, Tìm Hiểu Kho Sách Hán Nôm, Nguồn Tư Liệu Văn Học Sử Học Việt Nam, Tập II. Hà Nội: Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội, 1990, tr. 26-30; Lại Nguyên Ân, Từ Điển Văn Học Việt Nam. Hà Nội: Nhà Xuất Bản Giáo Dục, 1999, tr. 734-35.

[3] Phạm Cao Dương, “Chung quanh hai chữ Văn Hiến trong bài Bình Ngô Đại Cáo của Đệ Nhất Công Thần Triều Lê: Nguyễn Trãi”, trong Đại Học Văn Khoa Saigon, Tập I. Huntington Beach: Dòng Việt, 1999, tr. 77-80.

[4] Ủy Ban Khoa Học Xã Hội Việt Nam, Viện Văn Học, Thơ Văn Lý-Trần, Tập III. Hà Nội: Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội, 1978, tr. 196.

[5] “Xuân Nhật Yết Chiêu Lăng”, thơ Trần Nhân Tông (1258-1308), trong Ngô Tất Tố, Việt Nam Văn Học: Văn Học Đời Trần. Saigon, Khai Trí, 1960, tr. 189.

[6] Lời phê của Vua Trần Nhân Tông về việc Trần Anh Tông phong thưởng quá nhiều quan tước. Nguyên văn:”Một nước to bằng bàn tay, mà sao lại có triều ban nhiều như thế này!”Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, đã dẫn, tr.589; Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Tập II, bản dịch của Hoàng Văn Lâu. Hà Nội: Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội, 1993, tr. 103-104.

[7] Lê Quý Đôn Toàn Tập, Tập III, Đại Việt Thông Sử, “Nghệ Văn Chí” , bản dịch của Ngô Thế Long, đã dẫn, tr. 100-101.

[8] Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, Tập Một, đã dẫn.

[9] Trần Quốc Vượng, Văn Hóa Việt Nam, Tìm Tòi và Suy Gẫm. Hà Nội: Nhà Xuất Bản Văn Hóa Dân Tộc, Tạp Chí Văn Hóa Nghệ Thuật, 2000, tr. 754-755.

[10] Thơ Văn Lý-Trần, đã dẫn, Tập I, 1977, tr. 58.

[11] -nt-, tr. 58-59.

[12] Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư , năm Quang Thái thứ 5 thời Trần Thuận Tông, Hồ Quý Ly có dâng lên vua sách Minh Đạo gồm có 14 chương trong đó ông đã đưa ra nhiều nhận định mới và độc đáo. Đại khái “ông cho Chu Công là Tiên Thánh, Không Tử là Tiên Sư, ở Văn Miếu để Chu Công ở chính giữa, nhìn về phương nam, Khổng Tử ở phía bên, nhìn về phương tây, sách Luận Ngữ có bốn chỗ đáng ngờ, cho Hàn Dũ là đạo nho, cho bọn Chu Mậu Thúc, Trình Di, Dương Thi, La Trọng Tố, Lý Diên Bình, Chu Tử, tuy học rộng nhưng ít tài, không sát với sự việc, chỉ thạo việc cóp nhặt văn chương người xưa.” Những nhận xét này bị Ngô Sĩ Liên cho là “khinh suất bàn về ngài (Khổng Tử) thì thực là không biết lượng sức mình. Ta không biết lý luận của Quý Ly là như thế nào vì sách này không còn nữa nhưng dù sao nó cũng chứng tỏ lối học của họ Hồ là có suy nghĩ, phê bình chứ không máy móc, thụ động như sau này. Còn Vua Tự Đức thì cho rằng những nhận định này chưa phải đã hoàn toàn sai. Ngoài Minh Đạo, Quý Ly còn làm Quốc Ngữ Thi Nghĩa và viết bài Tựa để dạy cho các cung nữ. Sách này cũng có điểm đặc biệt là tác giả phần nhiều đã chép theo ý mình chử không theo tập truyện của Chu Tử. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Tập II, đã dẫn, tr. 184-185, 190. Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, Chính Biên, Quyển Thứ XI, đã dẫn, tr. 688-689. – Chương Thâu, Góp Phần Tìm Hiểu Nho Giáo – Nho Sĩ – Trí Thức Việt Nam Trước 1945. Hà Nội, Nhà Xuất Bản Văn Hóa – Thông Tin, 2007, tr. 42.

[13] 1292-1370. Ngoài vai trò của một sư biểu của Việt Nam, Chu Văn An còn là tác giả của nhiều tác phẩm có giá trị trong đó có Tứ Thư Thuyết Ước, Tiều Ẩn Thi, Thanh Trì Quang Liệt Chu Thị Di Thư, Quốc Ngữ Thi, Thất Trảm Sớ.

[14] Tác giả khuyết danh đời Trần, Thế kỷ XIV, Việt Sử Lược, bản dịch và chú giải của Trần Quốc Vượng. Hà Nội, Nhà Xuất Bản Văn Sử Địa, 1960.

[15] Lê Mạnh Thát, Nghiên Cứu Về Thiền Uyển Tập Anh. Saigon: Nhà Xuất Bản Thành Phố Hồ Chí Minh, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, tr.24.

[16] Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, đã dẫn, tr. 755.

[17]như trên -, tr. 671-172.

[18] – như trên -, tr. 673.

[19] Thượng Tọa Mật Thể, Việt Nam Phật Giáo Sử Lược. Huế, Minh Đức, 1960, tr. 86 và các trang liên hệ.

[20] Trích thơ của Nhà Nho Đặng Văn Bá , Thế Kỷ XX trước.

[21] Trích “Để Lại Cho Em”, Tâm Ca của Phạm Duy, Thập Niên 1960.

[22] Hoàng Cầm, Đêm Liên Hoan.

ĐCSTQ đã huỷ hoại Phật giáo và các tôn giáo khác thế nào?

https://trithucvn.net/trung-quoc/dcstq-da-huy-hoai-phat-giao-va-cac-ton-giao-khac-the-nao.html

ĐCSTQ đã huỷ hoại Phật giáo và các tôn giáo khác thế nào?

  • Thứ Hai, 25/03/2019

Tôn giáo tín ngưỡng là một bộ phận quan trọng của văn hóa truyền thống Trung Hoa. Trong lịch sử Trung Quốc mấy nghìn năm, ba tôn giáo Đạo giáo, Phật giáo, Nho giáo vẫn luôn đồng thời tồn tại. Về sau này, các giáo phái Tây phương cũng du nhập vào Trung Quốc, trở thành tín ngưỡng tinh thần của một bộ phận người dân Trung Hoa. Tuy nhiên, kể từ khi giành chính quyền năm 1949, Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đã không ngừng sử dụng các thủ đoạn nhằm phá hoại và tiêu diệt tôn giáo, từ bên ngoài lẫn bên trong.

Từ bên ngoài, ĐCSTQ gia tăng đàn áp tôn giáo. Năm 2018, các cộng đồng tín ngưỡng tôn giáo ở các nơi tại Trung Quốc đã phải đối mặt với mối đe dọa chưa từng có: Giáo hội gia đình Cơ Đốc giáo bị tấn công, người Hồi giáo Tân Cương đang bị giam giữ và giám sát, bức hại ở Tây tạng cũng đang nghiêm trọng hơn.

Từ bên trong, ĐCSTQ đưa những người không có tín ngưỡng vào bên trong tôn giáo, trực tiếp dẫn dắt những người có tín ngưỡng đi theo con đường sai lầm, đồng thời khiến những người chưa bước chân vào tôn giáo cảm thấy chán ghét tôn giáo. Năm 2018, trong Phật giáo Trung Quốc xuất hiện hàng loạt sự kiện “kỳ lạ”, từ việc lạm dụng các nữ tu, đến thương mại hóa chốn tu hành, gần đây nhất là quản lý cả việc chuyển sinh của Đạt Ma… ĐCSTQ đã áp dụng triệt để tuyên bố “Công phá pháo đài dễ nhất là đánh từ bên trong” của Lenin, coi đó như kim chỉ nam để phá hủy triệt để các tôn giáo.

Theo Báo cáo thường niên mới được công bố gần đây của Hiệp hội Viện trợ Trung Quốc (China Aid), năm 2018, sự thay đổi lớn nhất trong mối quan hệ giữa chính trị và tôn giáo tại Trung Quốc là chính trị thống lĩnh tôn giáo. Hát quốc ca trong nhà thờ, treo ảnh của Mao Trạch Đông và Tập Cận Bình ở 2 bên bục giảng trong nhà thờ, hợp nhất Cục Các vấn đề tôn giáo thuộc Quốc vụ viện vào Bộ Mặt trận Thống nhất Trung ương, tất cả những điều này đều cho thấy chính quyền đều không hề che giấu sự kiểm soát đối với tôn giáo.

Chính sách tôn giáo của ĐCSTQ chính là tiêu diệt tôn giáo

Ông Diệp Tiểu Văn (giữa) tại Hội đàm Tôn giáo Thế giới (Ảnh: Kim Young-ho/Epoch Times)

The Epoch Times đưa tin ngày 9/12/2017, kỹ sư cấp cao về kết cấu của Bộ Kiến thiết Trung Quốc Hà Lập Chí đã kể lại rằng 17 năm trước (năm 2000), ông từng tận mắt xem một video về cuộc họp cấp cao của ĐCSTQ, nội dung là đương nhiệm Cục trưởng Cục quản lý Sự vụ Tôn giáo quốc gia khi đó là Diệp Tiểu Văn tổ chức một buổi thuyết giảng với bí thư đảng ủy, các bộ ủy các cơ quan trung ương và Quốc vụ viện. Video dài 4 tiếng đồng hồ, trong đó ông Diệp Tiểu Văn nhắc đến mục đích cuối cùng của các chính sách tôn giáo của ĐCSTQ chính là tiêu diệt tất cả các tín ngưỡng tôn giáo, tiêu diệt linh hồn của nhân loại, đồng thời đưa ra 3 bước cụ thể.

Thứ nhất, mời những thủ lĩnh tôn giáo của dân tộc thiểu số đó đến Bắc Kinh làm quan to, Lạt Ma Tây Tạng cũng vậy, Ban Thiền cũng vậy, để họ hưởng thụ cuộc sống, cho họ những đãi ngộ tốt nhất để họ quên đi cái gì là tín ngưỡng tôn giáo.

Thứ hai, đối với những lãnh tụ tôn giáo hoặc chưởng môn phái không phục tùng, tức những người không nghe theo ĐCSTQ, thì tiến hành công kích họ, bắt giam, không để họ có không gian tồn tại.

Thứ 3, tiến hành đẩy mạnh giáo dục thuyết vô Thần trong những khu vực tín ngưỡng tôn giáo rộng, để những lớp người trẻ, những thế hệ mới không còn tin vào cha ông của họ nữa. Như vậy, theo thời gian, những tín ngưỡng tôn giáo lâu đời ở những nơi này sẽ dần dần không còn tồn tại nữa. Khống chế số người tín ngưỡng tôn giáo ở mức thấp nhất, dần dần giảm thiểu, cuối cùng đạt đến mức tôn giáo không còn tồn tại được nữa.

Trong đoạn video, ông Diệp Tiểu Văn còn nhấn mạnh, trong 50 năm trước, về cơ bản ĐCSTQ đã tiêu diệt tín ngưỡng tôn giáo của người Hán, và “thành công” trong việc cải tạo những tôn giáo còn tồn tại ở Trung Quốc thành một bộ phận phục vụ mục đích chính trị xã hội chủ nghĩa, nhưng sự xuất hiện của Pháp Luân Công lại khiến cho “thành quả” này biến thành hư không. Vì thế họ cần phải “thực hiện mục tiêu cuối cùng, chính là trước tiên giải quyết cho xong vấn đề Pháp Luân Công. Giải quyết thế nào? Chính là cần trừ bỏ tận gốc Pháp Luân Công.”

Cuộc đàn áp Pháp Luân Công bắt đầu từ ngày 20/7/1999. (Ảnh: minghui.org)

Theo tài liệu công khai cho thấy, tại Trung Quốc Đại Lục, Pháp Luân Công truyền ra từ năm 1992, đến năm 1999, truyền thông của Trung Quốc đưa tin có từ 70 triệu đến 100 triệu người tập luyện Pháp Luân Công, con số này đã vượt qua tổng số đảng viên của ĐCSTQ lúc bấy giờ. Hơn nữa còn có rất nhiều đảng viên ĐCSTQ cũng đang tập luyện môn này. Tuy nhiên, ngày 20/7/1999, ĐCSTQ bắt đầu đàn áp, bức hại toàn diện Pháp Luân Công, ông Giang Trạch Dân từng lớn giọng nói “tiêu diệt Pháp Luân Công trong 3 tháng”, đồng thời thực thi chính sách “bôi nhọ danh dự, vắt kiệt kinh tế, hủy hoại thân thể”. Cuộc bức hại nhân quyền đối với người dân Trung Quốc Đại Lục vẫn tiếp diễn đến hiện nay và chưa hề dừng lại, ĐCSTQ thậm chí còn thu hoạch nội tạng sống người tu luyện Pháp Luân Công một cách tà ác đến cùng cực, phạm vào tội ác trước đây chưa từng có trên hành tinh này.

Cùng với mục tiêu tiêu diệt tôn giáo, ĐCSTQ không ngừng thao túng tôn giáo, tạo ra cái gọi là “tôn giáo quốc doanh” làm cơ quan ngôn luận cho ĐCSTQ, đảng nói gì thì họ nói theo, đến lúc cần thiết họ sẽ lên tiếng thay đảng và bênh vực đảng. Những tôn giáo quốc doanh này hoàn toàn méo mó biến dị, từ lâu đã không còn là tôn giáo đúng nghĩa nữa.

ĐCSTQ yêu cầu các tôn giáo đề cao “giá trị xã hội chủ nghĩa cốt lõi”

Sau khi xây dựng chính quyền, ĐCSTQ đã biến hệ thống tôn giáo truyền thống thành một phần của hệ thống chính trị nhà nước. Dù Phật giáo hay Đạo giáo cũng chỉ là một công cụ chính trị, một đơn vị hành chính của ĐCSTQ.

Dưới thời Chủ tịch Tập Cận Bình, ĐCSTQ đã phát động một phong trào sâu rộng nhằm thực hiện cái họ gọi là “hán hóa” tôn giáo: làm cho các tôn giáo có nhiều “tính Trung Quốc” bằng cách đưa tất cả các tôn giáo dưới sự kiểm soát toàn diện của ĐCSTQ (thực chất là “đảng hóa” tôn giáo, làm cho các tôn giáo có nhiều “tính đảng”). Trung Quốc hiện nay công nhận 5 tôn giáo – Phật giáo, Đạo giáo, Hồi giáo, Công giáo và Tin lành – và đã bắt đầu một chiến dịch thay thế các nhà chức sắc tôn giáo được chính quyền thừa nhận trong cả năm tôn giáo này bằng các lãnh đạo thân ĐCSTQ, những người được dạy phải tuân lệnh ĐCSTQ và Chủ tịch Tập Cận Bình.

Các chức sắc tôn giáo muốn tồn tại ở Trung Quốc phải đi học lớp huấn luyện “yêu nước”. (Ảnh minh họa qua Breitbart)

Những chức sắc tôn giáo mà được chế độ Bắc Kinh cho phép duy trì quyền lực bị ép phải tham gia “đào tạo mở rộng” tại Viện Xã hội chủ nghĩa Trung ương để dạy về tư tưởng Mác-xít. Viện Xã hội chủ nghĩa này được thiết kế riêng cho các cá nhân không phải là thành viên của ĐCSTQ, nhưng phải tham gia học tập để phù hợp với giáo lý của giai cấp cầm quyền. Các chức sắc tôn giáo tham gia các lớp học “chuyển hóa” này được dạy phải đề cao chủ nghĩa xã hội, sáng kiến “Một vành đai một con đường” và sự sáng suốt của Tư tưởng Tập Cận Bình. Các linh mục, mục sư và đạo sư được ĐCSTQ phê duyệt cũng đã bắt đầu công việc xóa bỏ bất cứ điều gì trong tôn giáo của họ mâu thuẫn với giáo lý của “Tư tưởng Tập Cận Bình”.

Việc cải tổ Công giáo – ảnh hưởng tới cả Hội Công giáo Yêu nước Trung Quốc và Giáo hội Yêu nước Tin Lành – sẽ “tăng tỷ lệ các giá trị cốt lõi xã hội chủ nghĩa, chủ nghĩa yêu nước và lịch sử Trung Quốc vào chương trình giảng dạy của các viện thần học có trụ sở tại Trung Quốc, cũng như thúc đẩy các yếu tố Trung Quốc vào các bài rao giảng giáo lý, các bài thơ ca tôn giáo, trang phục và các thiết kế nhà thờ”.

Hiện tại, Giáo hội Công giáo Trung Quốc không thuộc Tòa thánh Vatican, Rome. Tòa thánh đã cấm các tín đồ Công giáo tham gia vào các nghi lễ của giáo hội Trung Quốc từ năm 1988.

Hội Hồi giáo Trung Quốc cũng đã tiến hành một chiến dịch tương tự khi ép tất cả các nhà thờ Hồi giáo phải đề cao “lá cờ quốc gia, Hiến pháp Trung Quốc, các giá trị xã hội chủ nghĩa cốt lõi và văn hóa Trung Quốc truyền thống [đã bị ĐCSTQ cải biến]”.

ĐCSTQ làm biến chất Phật giáo

Tôn giáo là cõi tu hành, chú trọng “thế giới bên kia” và “vương quốc Thiên Đường”. Nhưng hòa thượng chính trị và mục sư chính trị thuộc Mặt trận Thống nhất của ĐCSTQ lại thêu dệt ra những thứ lầm lạc như “Phật giáo thế gian”, “Tôn giáo là chân lý, chủ nghĩa xã hội cũng là chân lý”, và “không có mâu thuẫn giữa thế tục và thế giới bên kia”. ĐCSTQ khuyến khích người xuất gia theo đuổi hạnh phúc và sự thịnh vượng của thế giới hiện tại, thay đổi giáo lý và ý nghĩa của tôn giáo.

Phá hoại giáo luật Phật giáo

Năm 1952, Trung Quốc thiết lập “Giáo hội Phật giáo Trung Quốc”, trong các hội viên có nhiều người đề nghị phải bỏ thanh quy giới luật trong Phật giáo, cho rằng những nguyên tắc này hại chết nhiều thanh niên nam nữ. Một số thậm chí ủng hộ “quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo, các nhà sư nam và nữ được kết hôn, uống rượu ăn thịt, phải được tự do, không ai phải chịu kiểm soát.”

ĐCSTQ tịch thu điền sản, buộc tăng ni học chủ nghĩa Mác, cưỡng ép nhồi sọ, buộc các tăng ni tham gia lao động. Ví dụ, tại Ninh Ba tỉnh Chiết Giang có một “Công trường Phật giáo”, trong đó có hơn 25.000 tăng ni bị ép lao động, hoang đường hơn là ĐCSTQ khuyến khích tăng ni kết hôn, dẫn đến sự tan rã đức tin Phật giáo. Ví dụ trước ngày 8/3 vào năm 1951, Hội Phụ nữ Trường Sa tỉnh Hồ Nam lệnh cho các nữ tu trên toàn tỉnh trong vài ngày phải quyết định kết hôn. Ngoài ra, các nam tu sĩ còn trẻ khỏe phải gia nhập quân đội, bị đưa đến chiến trường làm bia đỡ đạn!

Các hòa thượng chính trị thêu dệt ra thuyết “diệt trừ phản cách mạng là từ bi lớn hơn” nhằm đả phá nguyên tắc cấm sát sinh của Phật giáo. Thậm chí trong thời kỳ “chống Mỹ và hỗ trợ Bắc Triều Tiên”, các nhà sư còn được đưa lên tiền tuyết để giết người.

Mới đây nhất, sau Đại hội 19 của ĐCSTQ, Phó hội trưởng Hiệp hội Phật giáo Trung Quốc – Hòa thượng Ấn Thuận tuyên bố Đại hội 19 là “Phật kinh đương đại”. Thậm chí, Viện Phật học Nam Hải, tỉnh Hải Nam, Trung Quốc đã tổ chức “Lớp bồi dưỡng học tập tinh thần Đại hội 19” của Hiệp hội Phật giáo tỉnh Hải Nam, “hòa thượng” Ấn Thuận, đương nhiệm Phó hội trưởng Hiệp hội Phật giáo phụ trách chủ trì lớp học nói, “báo cáo Đại hội 19 là Phật kinh đương đại, tôi đã chép tay 3 lần, và còn đang chuẩn bị tiếp tục chép thêm 10 lần.”

Tệ hơn nữa, các danh sơn Phật giáo còn bị đưa vào thương mại hóa. Theo thông tin từ trang web ủa Ủy ban Giám sát Chứng khoán Trung Quốc, hồi tháng 4/2018 Công ty Cổ phần Phát triển du lịch Phổ Đà Sơn công bố Bản dự thảo cho biết, theo kế hoạch Phổ Đà Sơn sẽ được đưa lên sàn chứng khoán. Thị trường Cổ phiếu A (cổ phiếu phổ thông Nhân dân tệ) sẽ có đủ bốn khu núi nổi tiếng của Phật giáo Trung Quốc. Địa điểm cụ thể của bốn ngọn núi Phật giáo nổi tiếng Trung Quốc này lần lượt là: Cửu Hoa ở An Huy, Ngũ Đài ở Sơn Tây, Phổ Đà ở Chiết Giang, và Nga Mi ở Tứ Xuyên. Theo như thông báo, mục tiêu IPO Phổ Đà Sơn dự tính là 615 triệu Nhân dân tệ, nguồn thu sẽ tập trung đầu tư vào cáp treo, tàu thuyền, và nhà đậu xe lập thể.

“Quản lý Sự Đầu thai của Phật sống”

Ngày 18/3/2019 vừa qua, lãnh tụ tinh thần của người Tây Tạng, Đức Đạt Lai Lạt Ma trong một cuộc phỏng vấn mới đây nói rằng sau khi ông qua đời, có thể ông sẽ đầu thai tại Ấn Độ, nơi ông sống lưu vong trong 60 năm qua và cảnh báo bất cứ người nào được chỉ định bởi Bắc Kinh để kế tục vị trí của ông không nên được tôn trọng.

Đạt Lai Lạt Ma, vị Lạt Ma thứ 14 của Tây Tạng đang sống lưu vong và không được chính quyền Bắc Kinh công nhận (Ảnh: Wiki)

Một ngày sau khi phát biểu của Đạt Lai Lạt Ma được công bố, Bộ Ngoại giao Trung Quốc có phản ứng rằng Trung Quốc có các điều luật quản lý sự luân hồi của Phật sống và Đạt Lai Lạt Ma hiện tại cũng phải tuân thủ điều này. Phát ngôn viên Cảnh Sảng của Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói: “Việc đầu thai của các vị phật sống là một thể chế đặc sắc được kế thừa trong Phật giáo Tây Tạng, xuất hiện với một loạt các tập tục và lễ nghi. Chính quyền Trung Quốc thi hành chính sách tự do tín ngưỡng tôn giáo. Thể chế đầu thai này được tôn trọng và bảo vệ bởi các cơ quan pháp lý như Luật Vấn đề Tôn giáo và Các biện pháp quản lý Sự Đầu thai của Phật sống… Do đó việc đầu thai của Phật sống, bao gồm Đạt Lai Lạt Ma phải tuân theo pháp luật Trung Quốc và các quy định, và theo nghi lễ tôn giáo cũng như tập tục lịch sử. “

Nhằm kiểm soát người Tây Tạng khiến họ dần dần từ bỏ tín ngưỡng của mình, năm 2007, Ban Quản lý Nhà nước về vấn đề Tôn giáo Trung Quốc ban hành Các biện pháp về Quản lý sự Đầu thai của Phật sống. (Hiện tại Ban quản lý nhà nước về vấn đề Tôn giáo được đặt ngay trực tiếp dưới quyền điều khiển của Bộ Mặt trận Trung ương thống nhất của ĐCSTQ). Điều 2 của Luật Quản lý đầu thai Phật sống quy định rằng“sự luân hồi của một Phật sống phải tuân theo các nguyên tắc bảo vệ sự thống nhất quốc gia, bảo vệ sự hòa hợp tôn giáo và xã hội và duy trì trật tự của Phật giáo Tây Tạng”. Điều này đồng nghĩa với việc “Phật sống Tây Tạng chuyển thế” bắt buộc phải được chính quyền Đại Lục thẩm tra phê chuẩn.

Luật này được đưa ra rõ ràng nhằm chống lại việc Đạt Lai Lạt Ma trong tương lai, người đang sống lưu vong ở Ấn Độ. Từ lâu nhiều người đã nhận định rằng chính quyền Bắc Kinh sẽ tìm cách chọn ra Đạt Lai Lạt Ma kế vị để đảm bảo lãnh đạo cao nhất của Phật Giáo Tây Tạng phù hợp với các yêu cầu, chính sách của Bắc Kinh.

Trên thực tế, Phật giáo Tây Tạng vẫn luôn là bia ngắm bức hại của ĐCSTQ. Năm 1950, ĐCSTQ cho quân đội đến chiếm lĩnh Tây Tạng. Năm 1959, Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 đã phải lưu vong sang Ấn Độ, bị ĐCSTQ coi là “phiến loạn”. Năm 1966, sau khi phát động Đại Cách mạng Văn hóa, rất nhiều Lạt ma bị cưỡng chế hoàn tục, nhiều kinh thư quý giá bị thiêu hủy. Đến năm 1976, vùng Tây Tạng nguyên có 2.700 ngôi chùa giảm xuống chỉ còn 8 ngôi chùa, trong đó chùa Đại Chiêu được xây dựng vào hơn 1.300 năm trước từ thời đại nhà Đường, ngôi chùa quan trọng nhất của Tây Tạng cũng bị cướp bóc trong Đại Cách mạng Văn hóa.

Tạm kết

Phá hoại tôn giáo không chỉ là việc khiến con người hiểu sai về tôn giáo, mà còn phá hủy tôn giáo từ bên trong, biến tôn giáo đó thành một thứ tà đạo, đánh tráo các giáo lý chân chính bằng giáo lý tà đạo nhưng vẫn giữ nguyên tên nhằm phục vụ cho các mục tiêu quyền lực thay vì mục tiêu chân chính của tôn giáo là giúp con người đề cao đạo đức.

Lịch sử nhân loại cho thấy có 5 thủ đoạn thường dùng để phá hoại một tôn giáo, đó là:

  • Phá hủy môi trường lưu truyền
  • Làm méo mó giáo nghĩa
  • Dựng chuyện, chụp mũ, tuyên truyền, kích động thù hận
  • Phá hoại từ bên trong
  • Tôn giáo chính trị – Sùng bái cá nhân

Phá hoại từ bên trong là cài những người không có tín ngưỡng vào bên trong tôn giáo, trực tiếp dẫn dắt những người có tín ngưỡng đi theo con đường sai lầm, đồng thời khiến những người chưa bước chân vào tôn giáo cảm thấy chán ghét tôn giáo… từ đó mà hủy đi niềm tin của con người nói chung vào giá trị chân chính của tu luyện, nâng cao chuẩn mực đạo đức, hướng về cội nguồn của văn hóa truyền thống.

Minh Ngọc (T/h)

Báo Pháp: Bắc Kinh cười hơi sớm khi Ý tham gia “Vành đai và Con đường”?

https://trithucvn.net/trung-quoc/bao-phap-bac-kinh-cuoi-hoi-som-khi-y-tham-gia-vanh-dai-va-con-duong.html

Báo Pháp: Bắc Kinh cười hơi sớm khi Ý tham gia “Vành đai và Con đường”?

  • Chủ Nhật, 24/03/2019

Hôm 23/3, Ý đã ký kết bản ghi nhớ tham gia “Một vành đai, Một con đường” với Trung Quốc nhân dịp chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tới thăm nước này, tuy nhiên việc hợp tác xây dựng mạng 5G không được nhắc đến trong bản ghi nhớ này. Truyền thông Pháp đưa tin, bản ghi nhớ này không có bất cứ lực ràng buộc nào; Ý mới chỉ là bước một chân vào, còn một chân vẫn ở ngoài, đến lúc quan trọng có thể sẽ rút ra.


Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Thủ tướng Ý Giuseppe Conte (Ảnh từ Getty Images)

Bản ghi nhớ không có lực ràng buộc

Giống như trước đó giới quan sát đã dự đoán, hôm 23/3, Ý đã ký bản ghi nhớ tham gia vào kế hoạch “Một vành đai, Một con đường” của Trung Quốc. Truyền thông Đức đưa ra bình luận, chính quyền Trung Quốc đang sử dụng sách lược “chia để trị” nhằm chia rẽ châu Âu.

Đài Phát thanh Quốc tế Pháp (RFI) phân tích, hiện tại mới chỉ là bắt đầu, từ bản ghi nhớ mà hai nước ký kết có thể thấy, phía Trung Quốc sẽ đầu tư hạn chế vào 2 cảng lớn và quan trọng của Ý nằm trên con đường thương mại trên biển thông với châu Âu. Do sự phản đối của Mỹ và Liên minh châu Âu (EU), nên có khoảng 20 dự án tạm thời dừng lại.

Ý cho biết, đàm phán vẫn đang tiến hành, các dự án liên quan có thể sẽ được ký kết với Trung Quốc trong chuyến thăm Bắc Kinh của Thủ tướng Ý Giuseppe Conte vào tháng 4 tới. Ý còn cho biết, mục tiêu của nước là điều chỉnh lại cục diện không cân bằng hiện nay khi lượng lớn những thứ gắn mác “Sản xuất tại Trung Quốc” vào Ý, trong khi đó có rất ít nhứng thứ gắn mác “Sản xuất tại Ý” được đưa vào Trung Quốc.

RFI cho biết, Bắc Kinh từng có ý đưa dự án hợp tác phát triển viễn thông với Roma vào kế hoạch “Một vành đai, Một con đường” do Trung Quốc chủ đạo; nhưng theo Phó Thủ tướng Ý, đồng thời cũng là lãnh đạo đảng Phong trào 5 sao Luigi Di Maio chia sẻ với Đài Phát thanh Truyền hình Ý rằng, bản ghi nhớ hợp tác “Một vành đai, Một con đường” ký kết với Trung Quốc không bao gồm các dự án mạng 5G.

Ông cũng nói, Ý sẽ dùng “nguyên tắc vàng” để đối phó thận trọng hơn với việc xây dựng mạng 5G nhằm hòa hoãn sự lo lắng của Mỹ và EU đối với việc nhà sản xuất thiết bị viễn thông Trung Quốc bước vào thị trường châu Âu.

“Nguyên tắc vàng” chính là chỉ việc chính phủ nắm quyền phủ quyết đối với ngành công nghiệp. Theo nguyên tắc này, tất cả những công ty mua công nghệ 5G từ nhà cung cấp không thuộc EU đều phải thông báo trước cho chính phủ.

Nhà cung cấp thiết bị và công nghệ 5G mà Mỹ và EU nói chính là chỉ Tập đoàn Huawei của Trung Quốc.

Chia sẻ với Đài Tiếng nói Hoa Kỳ (VOA), ông Jacob Kirkegaard – chuyên gia về vấn đề châu Âu thuộc Trung tâm nghiên cứu kinh tế quốc tế Peterson tại Mỹ cho biết, Trung Quốc có lẽ sẽ đầu tư vào các dự án cảng biển, nhưng không có nhiều căn cứ để nói rằng Ý và Trung Quốc dự tính tạo mối quan hệ kiểu như liên minh chiến lược kinh tế.

Ông còn chỉ ra, Ý sẽ có sự luân phiên đảng chấp chính trong thời gian ngắn sắp tới, hiện tại đảng Phong trào 5 sao của Thủ tướng Giuseppe Conte có khả năng sẽ rút lui khỏi chính phủ, đảng Liên đoàn cực hữu có thể sẽ trở thành đảng chấp chính của Ý. Lãnh đạo đảng Liên đoàn cực hữu là ông Matteo Salvini vẫn chưa biểu thị sự ủng hộ, nên sức ảnh hưởng của bản ghi nhớ này cũng là có hạn.

Vì sao Ý tham gia vào “Một vành đai, Một con đường”?

Ý là nền kinh tế lớn thứ 3 của EU và là thành viên của nhóm các nước G7, EU không hy vọng Trung Quốc đặt một chân vào vùng trung tâm của mình.

Mỹ và EU trước đó đều kiên quyết phản đối Ý tham gia “Một vành đai, Một con đường”, tuy nhiên vì sao Ý vẫn khăng khăng không nghe? RFI cho rằng, hễ đã cân nhắc đến lợi ích kinh tế thì cũng có tính toán về chính trị.

Sau khi đảng Phong trào 5 sao chấp chính, chính sách và khẩu hiệu “Nước Ý trên hết” của đảng này đã nhiều lần bị EU phê bình, quan hệ giữa Pháp và Ý cũng vì thế mà căng thẳng thấy rõ; về phương diện kinh tế, khủng hoảng đang rình rập Ý nên chính phủ nước này đang cần gấp các khoản đầu tư, Bắc Kinh cam kết sau khi tham gia vào “Một vành đai, Một con đường” Ý có thể nhận được khoản đầu tư lớn, nên kế hoạch này rất có sức hút lớn với Ý.

Chính phủ Ý hôm thứ Bảy (23/3) cho biết, Ý và Trung Quốc đã ký 29 hợp đồng tổng trị giá 2,5 tỉ Euro, giá trị tiềm năng có thể lên đến 20 tỉ Euro. Truyền thông nhà nước Trung Quốc nói, nước Ý tham gia vào “Một vành đai, Một con đường” là đột phá quan trọng nhất trong ngoại giao của Bắc Kinh từ năm 2019 đến hiện tại.

Ý sẽ đi ngược với EU như thế nào?

Hôm 22/3, Tổng thống Pháp Emmanuel Macron vẫn biểu thị thái độ nghi ngờ về việc Ý và Trung Quốc sắp sửa ký cam kết liên quan đến “Một vành đai, Một con đường”, Thủ tướng Đức Angela Merkel cho biết các nước thành viên của EU cần lựa chọn hành động nhất trí khi đối mặt với Trung Quốc.

Năm ngoái, Tổng thống Pháp Macron đã phát biểu tại Hội nghị thường niên Đại sứ Pháp rằng, không nên xem nhẹ ý đồ bá quyền ẩn chứa trong “Một vành đai, Một con đường” của Trung Quốc; trước đó trong chuyến thăm châu Phi, ông Macron cũng đưa ra cảnh báo tương tự.

Hôm 22/3, lãnh đạo EU quyết định lựa chọn chiến lược cứng rắn đối với Trung Quốc, phương án cụ thể là tìm kiếm các quy tắc đối ứng mới trong tiếp cận thị trường công cộng và tăng cường giám sát đầu tư chiến lược của nước ngoài trong khu vực châu Âu.

Ông Macron một lần nữa tuyên bố: “Trong mối quan hệ với Trung Quốc, thời kỳ ngây thơ của EU đã không còn”. Trước đó, ông Macron khen ngợi “EU đã thức tỉnh”, chủ yếu là chỉ về “kế hoạch hành động gồm có 10 điểm” mà trước đó không lâu EU đã đưa ra nhắm vào Trung Quốc.

EU và Mỹ hiện có nhận thức chung rằng Trung Quốc có thể đầu tư một cách tự do không hạn chế tại phương Tây, nhưng phương Tây cũng cần phải được đầu tư ngang như vậy tại thị trường Trung Quốc.

Đài RFI cho biết, bắt đầu từ bây giờ “Phương án hạn chế nước ngoài đầu tư trong EU” (chủ yếu là nhắm vào Bắc Kinh) được EU thông qua và Ý từng toàn lực ủng hộ, sẽ phải đối mặt với thử thách nghiêm khắc. Còn phía Bắc Kinh, có phải là họ đã cười hơi sớm hay chăng?

Đài Phát thành Đức (Deutsche Welle) nói, Ý sẽ “giữ thăng bằng” như thế nào như thế nào giữa EU và Bắc Kinh, và liệu có thể thu được lợi ích như mong đợi hay không, những điều này hiện vẫn là ẩn số. Điều có thể dự đoán là, cùng với việc Ý rời xa trục trung tâm Đức – Pháp, thì EU và các nước phát triển khác sẽ càng cảnh giác hơn, sẽ cố gắng đưa ra nhiều biện pháp nhằm ngăn chặn sức ảnh hưởng của Trung Quốc nhằm bảo hộ nền công nghiệp và công nghệ cao của mình.

Trí Đạt

Hai máy bay Nga chở 100 binh sĩ đáp xuống Venezuela

https://www.nguoi-viet.com/hoa-ky/hai-may-bay-khong-quan-nga-dap-venezuela/

Hai máy bay Nga chở 100 binh sĩ đáp xuống Venezuela

March 24, 2019

Máy bay Nga được nhìn thấy ở cảng hàng không quốc tế Simon Bolivar, Caracas, Venezuela vào 24 Tháng Ba, 2019. (Hình: REUTERS/Carlos Jasso)

CARACAS, Venezeula (NV) – Hai máy bay Nga chở theo một giới chức cao cấp quốc phòng Nga và gần 100 binh sĩ đáp xuống phi trường quốc tế Simon Bolivar, Caracas, Venezuela vào Thứ Bảy, 23 Tháng Ba, theo Reuters.

Trang mạng theo dõi không lưu Flightradar24 cho thấy một máy bay chở khách Ilyushin IL-62 và một máy bay quân sự Antonov AN-124 từ sân bay Chkalovsky, Nga đã đáp xuống Caravas, Venezuela vào hôm Thứ Sáu. Trên đường bay có dừng ở Syria.

Trang theo dõi không lưu khác là Adsbexchange cho thấy một trong hai chiếc máy bay đó đã rời khỏi Caravas vào Chủ Nhật, 24 Tháng Ba.

Sự việc này diễn ra sau ba tháng hai quốc gia tổ chức các cuộc tập trận quân sự trên đất Venezuela mà Tổng Thống Nicolas Maduro gọi đó là “dấu hiệu tăng cường quan hệ,” nhưng Hoa Kỳ đã chỉ trích đó là “sự xâm lấn của Nga trong khu vực.”

Phóng viên Javier Mayorca đã viết trên Twitter hôm Thứ Bảy rằng chiếc máy bay thứ nhất chở ông Vasily Tonkoshkurov, Tổng tham mưu trưởng lực lượng vũ trang Nga; chiếc máy bay thứ hai chở 35 tấn thiết bị.

Theo Reuters, chưa xác định được vì sao hai máy bay này lại đáp xuống Venezuela. Bộ Thông tin Venezuela từ chối đưa ra bình luận.

Tương tự, Bộ Quốc Phòng và phát ngôn viên của điện Kremlin cũng không có phản hồi khi được hỏi nguyên nhân của sự việc.

Chính quyền Tổng Thống Donald Trump đã áp dụng các biện pháp trừng phạt làm tê liệt ngành công nghiệp dầu mỏ quốc gia OPEC trong nỗ lực tước hết quyền lực của Tổng Thống đương nhiệm Maduro và kêu gọi các nhà lãnh đạo quân sự Venezuela từ bỏ ông.

Đáp lại, ông Maduro đã cáo buộc các biện pháp trừng phạt là sự can thiệp của Hoa Kỳ và đã giành được sự ủng hộ ngoại giao từ Nga và Trung Quốc.

Tháng Mười Hai, 2018, Washington từng tỏ thái độ tức giận khi hai máy bay ném bom chiến lược của Nga có khả năng mang vũ khí hạt nhân đã đáp xuống Venezuela trong một chương trình hỗ trợ cho chính phủ xã hội chủ nghĩa của ông Maduro.

Venezuela vào Tháng Hai vừa qua đã chặn một đoàn xe chở viện trợ nhân đạo, bao gồm cả nguồn cung cấp do Hoa Kỳ cung cấp, đi vào biên giới với Colombia. (K.L)

Vợ thủ lĩnh đối lập Venezuela nhắn TT Maduro: ‘Quá đủ rồi’

https://www.voatiengviet.com/a/v%E1%BB%A3-th%E1%BB%A7-l%C4%A9nh-%C4%91%E1%BB%91i-l%E1%BA%ADp-venezuela-nh%E1%BA%AFn-tt-maduro-qu%C3%A1-%C4%91%E1%BB%A7-r%E1%BB%93i-/4845966.html

Vợ thủ lĩnh đối lập Venezuela nhắn TT Maduro: ‘Quá đủ rồi’

Bà Fabiana Rosales (trái) và chồng tại một sự kiện.

Bà Fabiana Rosales (trái) và chồng tại một sự kiện.

Phu nhân của thủ lĩnh đối lập Venezuela Juan Guaido hôm 23/3 có một thông điệp ngắn gọn gửi tới Tổng thống Nicolas Maduro, sau khi chánh văn phòng của chồng bà bị bắt: “Đã quá đủ rồi!”

Trong cuộc phỏng vấn với Reuters tại Peru, nơi bà gặp các di dân Venezuela trước chuyến thăm Mỹ, bà Fabiana Rosales nói rằng vụ bắt giữ ông Roberto Marrero với cáo buộc khủng bố hôm 21/3 là một nỗ lực “nực cười” của ông Maduro nhằm phá vỡ tinh thần của phe đối lập.

“Chúng tôi biết về điều chúng tôi phải chống lại. Chúng tôi biết chế độ độc tài này giống quái vật như thế nào”, bà Rosales, phóng viên và nhà hoạt động đối lập 26 tuổi, nói. Reuters cho rằng các ủng hộ viên coi bà là đệ nhất phu nhân Venezuela.

Venezuela rơi vào cuộc khủng hoảng chính trị nghiêm trọng từ hồi tháng Giêng, khi ông Guaido tự phong là tổng thống lâm thời của nước này, và nhận được sự hậu thuẫn của nhiều quốc gia, trong đó có Mỹ.

Tuy nhiên, ông Maduro vẫn duy trì kiểm soát đối với các cơ quan nhà nước, nhất là nhận được sự ủng hộ các tướng lĩnh quân đội hàng đầu của Venezuela.

Khi được hỏi liệu bà có thông điệp gì cho ông Maduro hay không, bà Rosales nói rằng “đã quá đủ rồi”.