Úc điều tàu chiến thi hành chế tài Triều Tiên

https://www.voatiengviet.com/a/uc-dieu-tau-chien-thi-hanh-che-tai-trieu-tien/4611623.html

Úc điều tàu chiến thi hành chế tài Triều Tiên
Tư liệu - Chiến hạm HMAS Melbourne neo đậu tại Cảng Sydney vào ngày 6 tháng 3, 2015.

Tư liệu – Chiến hạm HMAS Melbourne neo đậu tại Cảng Sydney vào ngày 6 tháng 3, 2015.

Úc điều một khu trục hạm có phi đạn dẫn đường tới Biển Đông để tăng cường các nỗ lực quốc tế nhằm thi hành các chế tài nhắm vào Triều Tiên, một sĩ quan quân đội Úc cho biết hôm 12/10.

Chỉ huy Bộ Tư lệnh Hoạt động Liên hợp của Lực lượng Phòng vệ Úc, Thượng tướng Không quân Mel Hupfeld, cho biết tàu chiến với một thủy thủ đoàn 230 người sẽ được hỗ trợ bởi hai máy bay do thám Orion AP-3C của Úc đặt tại Nhật Bản.

"Dù căng thẳng đang lắng dịu trên Bán đảo Triều Tiên, Bình Nhưỡng vẫn tiếp tục với các chương trình vũ khí hạt nhân và vũ khí đạn đạo của họ bất chấp các nghị quyết Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc," ông Hupfeld nói với các phóng viên.

"Việc thỉnh thoảng điều động … các máy bay tuần tra hàng hải và tàu đến vùng này … tăng thêm sức nặng cho áp lực kinh tế và ngoại giao liên tục của Úc đối với Triều Tiên và tăng cường năng lực của các nỗ lực thi hành chế tài đa quốc gia hiện hành," ông nói thêm.

Úc sẽ hợp tác với Nhật Bản, Mỹ, Canada và Hàn Quốc để thi hành các chế tài, ông Hupfeld nói.

Ông so sánh việc phát hiện các vụ chuyển hàng hóa phi pháp từ tàu này qua tàu kia trong số nhiều giao dịch chính đáng ở Biển Hoa Đông giống như mò kim đáy biển.

Ông Hupfeld không nói liệu vai trò của khu trục hạm HMAS Melbourne có phải là ngăn chặn các tàu chở hàng bị tình nghi hay không.

Tàu chiến này thường neo đậu ở Sydney, hiện đang ở Hàn Quốc tham gia một đợt thẩm định hạm đội, ông cho biết.

Tổng thống Mỹ Donald Trump đã khuyến khích các đồng minh của Mỹ duy trì các chế tài đối với Triều Tiên cho đến khi nước này giải trừ hạt nhân như một phần trong nỗ lực mà chính quyền của ông gọi là một chiến dịch “áp lực tối đa” nhắm vào chính phủ của lãnh tụ Kim Jong Un.

TT Moon: Triều Tiên chủ trương hủy tất cả vũ khí hạt nhân

https://www.voatiengviet.com/a/tt-moon-trieu-tien-chu-truong-huy-tat-ca-vu-khi-hat-nhan/4610686.html

Tổng thống Hàn Quốc (trái) gặp lãnh tụ Triều Tiên (phải) ở Bình Nhưỡng, tháng 9/2018

Tổng thống Hàn Quốc (trái) gặp lãnh tụ Triều Tiên (phải) ở Bình Nhưỡng, tháng 9/2018

Lãnh tụ Triều Tiên Kim Jong Un có chủ trương dỡ bỏ tất cả các vũ khí hạt nhân, vật liệu và các cơ sở liên quan để hoàn thành việc phi hạt nhân hóa "toàn bộ", Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in cho biết hôm 12/10.

Ông Moon nhấn mạnh đến quyết tâm của ông Kim về từ bỏ các chương trình hạt nhân và tên lửa, và tập trung vào kinh tế, nếu chế độ của ông ta được đảm bảo an toàn.

"Về phi hạt nhân hóa toàn bộ, ý của ông ấy là bắt đầu bằng cách ngừng các cuộc thử hạt nhân và tên lửa mới, và tiếp đến là dỡ bỏ các cơ sở sản xuất vũ khí hạt nhân và phát triển tên lửa, cũng như tất cả các vũ khí hạt nhân và vật liệu hiện có", ông Moon nói, theo bản ghi chép cuộc phỏng vấn của ông với BBC được văn phòng của ông cung cấp.

Sau cuộc gặp thượng đỉnh lần thứ ba của ông với ông Kim Jong Un ở Bình Nhưỡng vào tháng 9, ông Moon nói Triều Tiên sẵn sàng mời các chuyên gia quốc tế giám sát việc tháo dỡ một cơ sở chủ chốt liên quan đến tên lửa và sẽ đóng cửa Yongbyon, khu phức hợp hạt nhân chính, nếu Washington có các hành động đối ứng.

Những động thái này có thể bao gồm chính thức chấm dứt Chiến tranh Triều Tiên 1950-53, mở văn phòng liên lạc của Mỹ tại Triều Tiên, viện trợ nhân đạo và trao đổi các chuyên gia kinh tế, Moon nói.

Và khi Triều Tiên có những tiến bộ đáng kể trong việc phi hạt nhân hóa, cần "xem xét nghiêm túc" việc giảm dần các biện pháp trừng phạt kinh tế đối với Bình Nhưỡng, ông Moon nói.

Hoa Kỳ vẫn luôn đòi hỏi rằng các bước phi hạt nhân hóa không thể đảo ngược phải diễn ra trước.

"Việc chấm dứt chiến tranh là một dạng tuyên bố chính trị để kết thúc mối quan hệ thù địch kéo dài giữa Hoa Kỳ và Triều Tiên, và việc đó sẽ khởi động các cuộc hòa đàm tùy thuộc vào quá trình phi hạt nhân hóa", ông Moon nói.

"Có sự đồng thuận giữa Hàn Quốc và Hoa Kỳ là mong rằng tuyên bố chấm dứt chiến tranh sẽ được đưa ra vào một ngày sớm nhất có thể được, vì vậy tôi nghĩ rằng đây là vấn đề về thời gian, nhưng chắc chắn việc đó sẽ diễn ra".

Ý kiến của ông được đưa ra trong bối cảnh Mỹ lo ngại rằng quan hệ giữa hai miền Triều Tiên có thể đang ấm lên quá nhanh so với các cuộc đàm phán để dỡ bỏ các chương trình vũ khí của Triều Tiên.

Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo gần đây đã bày tỏ “không đồng tình” với hiệp ước quân sự liên Triều đạt được trong cuộc gặp thượng đỉnh hồi tháng trước. Đây là dấu hiệu về sự bất đồng hiếm hoi giữa hai đồng minh Mỹ, Hàn.

Trong hiệp ước đó, hai miền Triều Tiên đã đồng ý dừng các cuộc tập trận, thiết lập một vùng cấm bay gần biên giới và dần dần gỡ bỏ mìn cũng như tháo dỡ các vọng gác trong khu phi quân sự, bên cạnh các bước đi khác.

Tòa án Thổ Nhĩ Kỳ trả tự do cho mục sư Mỹ

https://www.voatiengviet.com/a/toa-an-tho-nhi-ky-tra-tu-do-cho-muc-su-my/4611193.html

Tòa án Thổ Nhĩ Kỳ trả tự do cho mục sư Mỹ
Mục sư Andrew Brunson (trái) về nhà sau khi được phóng thích vào ngày 12/10/2018.

Mục sư Andrew Brunson (trái) về nhà sau khi được phóng thích vào ngày 12/10/2018.

Tòa án Thổ Nhĩ Kỳ hôm 12/10 phán quyết trả tự do cho mục sư Tin Lành Andrew Brunson, tâm điểm của căng thẳng ngoại giao giữa Ankara và Washington. Theo Reuters, đây là động thái có thể xem là bước đầu tiên hướng tới hàn gắn quan hệ giữa hai đồng minh NATO.

Tòa án đã kết án ông Andrew Brunson 3 năm và 1,5 tháng tù giam với tội danh khủng bố, nhưng nói rằng ông không phải ở tù thêm nữa.

Mục sư đã sống ở Thổ Nhĩ Kỳ hơn 20 năm qua đã bị giam tù hai năm trước và bị quản thúc tại gia kể từ tháng Bảy.

Tổng thống Mỹ Donald Trump, người đã áp đặt các biện pháp trừng phạt đối với Thổ Nhĩ Kỳ trong một nỗ lực buộc Ankara phải trả tự do cho ông Brunson, viết trên trang Twitter rằng: “Mục sư Brunson vừa được thả ra. Ông sắp trở về nhà!”

Trong bộ vét đen, áo sơ mi trắng và cà vạt đỏ, mục sư quê ở bang North Carolina, Mỹ, đã bật khóc khi tòa ra phán quyết, Reuters dẫn lời các nhân chứng cho biết.

Trước quyết định của thẩm phán, ông nói với tòa rằng: “Tôi là một người vô tội. Tôi yêu Chúa Giêsu, tôi yêu Thổ Nhĩ Kỳ”.

Sau phán quyết, luật sư của ông Brunson nói với các phóng viên rằng nhiều khả năng mục sư Brunson sẽ rời khỏi Thổ Nhĩ Kỳ.

Bế tắc ngoại giao qua vụ ông Brunson, người từng là mục sư của Giáo hội Phục sinh Izmir, đã gây ra một đợt bán tháo đồng lira khiến đồng tiền của Thổ Nhĩ Kỳ mất giá, làm trầm trọng thêm một cuộc khủng hoảng tài chính ở nước này.

Ông Brunson bị buộc tội liên kết với các chiến binh người Kurd và những người ủng hộ ông Fethullah Gulen, một giáo sĩ mà Thổ Nhĩ Kỳ cáo buộc đã âm mưu đảo chính vào năm 2016. Ông Brunson phủ nhận cáo buộc, và Washington đã yêu cầu Ankara phải phóng thích ông ngay lập tức.

Tổng thống Trump được cho là đã ghi điểm với các Kitô hữu Tin Lành bằng cách tập trung vào vụ ông Brunson.

Theo Reuters, việc mục sư Brunson được phóng thích có thể làm tăng khả năng của ông Trump thúc đẩy cử tri đi bỏ phiếu với số lượng lớn cho đảng Cộng hòa trong cuộc bầu cử ngày 6/11, là cuộc bầu cử quyết định liệu đảng này có giữ quyền kiểm soát Quốc hội hay không.

Đài truyền hình NBC của Mỹ hôm 11/10 cho biết Washington đã bí mật thỏa thuận với Ankara để đảm bảo việc phóng thích ông Brunson.

Mối quan hệ giữa hai đồng minh NATO cũng đang bị căng thẳng vì những tranh chấp quanh việc Mỹ hỗ trợ cho các chiến binh người Kurd ở miền bắc Syria, kế hoạch của Thổ Nhĩ Kỳ mua một hệ thống phòng thủ tên lửa của Nga và vụ bỏ tù một nhà điều hành ngân hàng Thổ Nhĩ Kỳ vì vi phạm các lệnh trừng phạt của Mỹ đối với Iran.

Nhân quyền Việt Nam lại được đề cập tại Nghị viện Châu Âu

https://www.rfa.org/vietnamese/news/reportfromvn/public-hearing-evfta-in-european-parliament-10122018121459.html

Tường An
2018-10-12

Điều trần tại Nghị viện Châu Âu về EVFTA giữa EU và Việt Nam ở Brussels, Bỉ hôm 10/10/2018Điều trần tại Nghị viện Châu Âu về EVFTA giữa EU và Việt Nam ở Brussels, Bỉ hôm 10/10/2018icon-zoom.png RFA

Ngày 10/10 vừa qua, tại số 100 place Luxembourg , Bruxelles, Nghị Viện Âu Châu đã tổ chức cuộc điều trần về đề tài Những Lợi Ích và Giá Trị của Hiệp Định Thương Mại Tư Do giữa Việt Nam và Liên Âu (gọi tắt là EV FTA). Nội dung buổi điều trần được nhắm đến 3 vần đề chính: Lao động, Nhân quyền và Môi trường.

Buổi điều trần có sự tham gia của đại diện Ủy ban Thương Mại Âu Châu là bà Helena Konig và ông Trần Quốc Khánh, Thứ trưởng Bộ Công Thương. Các chuyện gia được mời gồm có ông Nicolas Audier, đại diện Phòng Thương Mại Âu châu tại Việt Nam, bà Karen Curtis, đại diện cho Tổ chức Lao Động Quốc Tế (ILO), đại diện Liên Hiệp quốc về môi trường, bà Anja von Moltke, cố vấn kinh doanh của Âu châu, bà Eleonora Catella và đặc biệc, từ Việt Nam có ông Nguyễn Quang A, nhà hoạt động Nhân quyền.

Được mời với tư cách một nhà chuyên môn trong lãnh vực Nhân quyền, dù gặp nhiều trở ngại về mặt hành chánh trước khi rời khỏi Việt Nam. Cuối cùng, ông Nguyễn Quang A cũng đã có mặt tại buổi điều trần để nêu lên 3 điểm ; 2 dữ kiện, 5 nhận xét và 3 khuyến nghị.

Hai dữ kiện mà ông Nguyễn Quang A đưa ra là :

– Văn bản EV FTA : đã được bàn thảo trong nhiều năm qua

– Tình hình Nhân quyền Việt Nam là xấu và ngày càng xấu đi

Tiến sĩ Nguyễn Quang A tại Nghị viện Châu Âu hôm 10/10/2018
Tiến sĩ Nguyễn Quang A tại Nghị viện Châu Âu hôm 10/10/2018 Photo: RFA
icon-zoom.png

Sau đó là 5 nhận xét của ông về khoa học, chính trị, các nghiện cứu về xã hội, các hoạt động của phong trào xã hội dân sự và vấn đề dân chủ hóa Việt nam. Theo ông, Việt nam sẽ thoát được ảnh hưởng của Trung cộng nếu có Hiệp định Thương mại với EU. Từ đó, ông đưa ra 3 khuyến nghị để giám sát việc thực hiện các điều khoản trong EV FTA, ông cho biết :

« Khuyến nghị thứ nhất là EU phải cố thúc VN phê chuẩn ba hiệp ước của ILO, đó là điều mà tôi thấy hết sức quan trọng. Điều thứ hai : trong cơ chế kiểm tra của EU thì phải mở ra cơ chế để kéo các tổ chức xã hội dân sự, kể cả các xã hội dân sự độc lập, không có đăng ký để tham gia vào quá trình giám sát việc thực hiện Hiệp định Thương mại Tự do này. Và điểm kiến nghị cuối là EU phải dẫn chiếu đến điều khoản hợp tác BCA ký giữa EU và Việt Nam năm 2012, trong đó có những điều khoản nếu Việt Nam vi phạm thì Eu có thể chế tài, chúng tôi kiến nghị rằng các ông phải dùng những công cụ như thế để ép Việt Nam thực hiện tốt Hiệp định Thương mại giữ EU và Việt Nam này »

EVFTA khi có hiệu lực sẽ giúp loại bỏ 99% dòng thuế xuất khẩu giữa Việt Nam và 28 nước thành viên Liên minh Châu Âu và ngược lại. Việt Nam là nước thứ hai trong khu vực Đông Nam Á, sau Singapore, có Hiệp định Thương mại tự do với EU.

EU hiện là đối tác thương mại lớn thứ hai và là một trong hai thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Theo đánh giá, sau khi ký kết FTA, Việt Nam sẽ là quốc gia hưởng lợi lớn nhất trong các nước ASEAN với mức tăng 35% về xuất khẩu, 15% về GDP và 13% về lương bổng cho người lao động

Sau 6 năm khởi động đàm phán, Bà Maria Arena thuộc đảng Xã Hội của Vương quốc Bỉ, là thành viên của Nghị Viện Liên Âu cho biết không thấy nhiều tiến triển về phía Việt nam, bà nói :

« Năm nay là năm 2018, từ năm 2012-2018 chúng tôi nhận thấy các tiêu chí về quyền Nghiệp đoàn và nhân Quyền của Việt Nam vẫn chưa tiến bộ một cách đầy đủ. Tôi nghĩ rằng chúng ta có thể chờ thêm 6 tháng nữa để Việt Nam thực hiện lời hứa. Nhưng không chỉ là lời hứa mà là sự đảm bảo, ngay cả trước khi Nghị Viện Liên Âu phê chuẩn hiệp định này. Nghị viện Liên Âu cần Việt Nam có những chỉ dấu tích cực chứ không chỉ là lời hứa. Chúng tôi có thể cho thêm thời gian, nhưng thời gian đó phải được Việt Nam sử dụng để có những hành động cho thấy được sự nổ lực của họ »

Việc phát triển kinh tế sẽ thúc đẩy cho những điều kiện cấu trức xã hội, và những điều kiện ấy tạo ra những điều kiện thuận lợi cho việc cải thiện Nhân quyền và Dân chủ hóa. – TS. Nguyễn Quang A

Theo góc nhìn của một người hoạt động Nhân quyền, ông Nguyễn Quang A cho rằng hiệp định EVFTA sẽ đem lại nhiều cơ hội cho việc cải thiện nhân quyền và phát triển của phong trào xã hội dân sự hiện đang bị đàn áp mạnh tại Việt nam,

« Việc phát triển kinh tế sẽ thúc đẩy cho những điều kiện cấu trức xã hội, và những điều kiện ấy tạo ra những điều kiện thuận lợi cho việc cải thiện Nhân quyền và Dân chủ hóa. Những kinh nghiệm lịch sử của thế giới cho thấy rằng một đất nước hội nhập càng sâu vào với thế giới thì áp lực của quốc tế càng có hiệu quả »

Trong khi đó, luật sư Nguyễn văn Đài cho rằng Việt Nam phải cải thiện Nhân quyền trước khi được phê chuẩn hiệp định thương mại này :

« Về bối cảnh Nhân quyền thì cần phải cải thiện tình trạng nhân quyền trước khi Quốc hội EU thông qua Hiệp định Thương mại giữa hai nước, còn sau khi Việt Nam đã gia nhập vào, hiệp định đó đã được ký kết thì rất là khó khăn để ép buộc nhà nước Việt Nam phải cải thiện Nhân quyền »

Ông Nguyễn Quang A cho biết có nhiều ý kiến trái chiều trong phong trào xã hội dân sự trong nước về việc Việt Nam vào FTA, một số ý kiến ủng hộ cũng như nhiều ý kiến phản đối, theo ông Nguyễn Quang A, cần có một sự thảo luận đúng đắn để nêu lên những cái lợi và hại của vấn đề này, ông nói :

« Cần có một sự thảo luận rất là đường hoàng giữa tất cả những tổ chức xã hội dân sự để chúng ta hiểu kỷ hơn về hiệp định này như thế nào ? nó tác động ra sao về dài hạn, trung hạn và kể cả ngắn hạn, và nếu chúng ta hiểu kỷ thì tôi nghĩ rằng số người ủng hộ sẽ nhiều hơn »

Việt Nam tái gia nhập Tổ Chức Lao Động Quốc Tế (ILO) năm 1993, tuy nhiên, cho tới hôm nay, Việt Nam chỉ mới phê chuẩn 21/187 công ước của ILO, trong đó chỉ có 5/8 công ước cơ bản. Còn 3 công ước như công ước số 87 về quyền Tư do Hiệp hội và bảo vệ quyền được tự do thi hành quyền tổ chức, nói cách khác là quyền tự do thành lập nghiệp đoàn, điều 98 về thương lượng tập thể và điều 105 về cưỡng bức lao động vẫn chưa ký.

Việt Nam và các quốc gia thành viên của Liên Âu đều là thành viên của ILO, vì vậy EV FTA trao quyền phán quyết việc tuân thủ các tiêu chí đã phê chuẩn cho các cơ quan giám sát của ILO. Để thông qua cửa ngỏ vào EVFTA, Việt nam sẽ phải phê chuẩn điều khoản 87, 98 và 105. Trong đó, điều 87 về việc thành lập các Nghiệp đoàn độc lập là quan trọng nhất. Tuy nhiên, nhiều ý kiến quan ngại là Việt Nam sẽ thành lập những nghiệp đoàn độc lập trá hình, về việc này, ông Nguyễn Quang A cho ý kiến :

« Cái đó rất có thể, về việc này, nếu chúng ta biết trước thì chúng ta phải có cách để đối phó bằng cách vạch mặt đây không phải là tổ chức nghiệp đoàn thật mà đây là tổ chức nghiệp đoàn trá hình. Nhưng cái quan trọng là nếu người ta phê chuẩn công ước ILO thì có nghĩa là công nhân Việt Nam nghiễm nhiên là có quyền đó và tôi phải nói thực thực sự ngay bây gờ công nhân Việt nam cũng có cái quyền đó, chỉ có cái là nó chưa được luật hóa một cách chi tiết ra và lúc bấy giờ là hoàn toàn phụ thuộc vào chính người Việt Nam chúng ta có thực thi cái quyền đó của mình hay không ? »

Thứ trưởng Thương mại Trần Quốc Khánh tại Nghị viện Châu Âu hôm 10/10/2018
Thứ trưởng Thương mại Trần Quốc Khánh tại Nghị viện Châu Âu hôm 10/10/2018 RFA
icon-zoom.png

Mặc dù người bảo vệ của Thứ trưởng Trần Quốc Khánh cho biết Thứ trưởng không trả lời phỏng vấn, nhưng sau buổi điều trần, chúng tôi cũng đặt được vài câu hỏi chớp nhoáng với người đại diện cho Việt Nam trong buổi điều trần. Ông Khánh đánh giá buổi điều trần diễn ra tốt đẹp. Khi được hỏi về vấn đề nhân quyền như một trong các điều kiện để đạt được EVFTA, Thứ trưởng Trần Quốc Khánh nói :

« Việt Nam và EU đã có một lịch sử đối thoại rất là dài với nhau về Nhân quyền, tôi tin rằng hai bên sẽ càng ngày càng hiểu nhau hơn và nếu có vấn đề gì thì sẽ cùng giải quyết.»

Trong khi đó thứ trưởng Công an, Thượng Tướng Lê Quý Vượng đã có lần cho rằng EU không hiểu rõ cơ chế Việt Nam khi gắn chặt các đòi hòi về nhân quyền với Hiệp Định Thương Mại Tự do.

Buổi điều trần có rất đông đại diện các dân biểu, nghị sĩ cũng như những tổ chức NGO chứng tỏ sự quan tâm của họ về Hiệp định này, về phía Việt nam cũng có một phái đoàn hơn 10 người tham dự. Nhận xét về buổi điều trần vừa qua, ông Nguyễn Quang A chia sẻ :

« Tôi tham dự lần đầu tiên nhưng tôi thấy rât là hay, người ta xới lên rất là nhiều vấn đề và những ý kiến về vấn đề Nhân quyền, về vấn đề môi trường, về vấn đề Pháp trị của VN là những vấn đề mà được giới Âu châu nêu lên. Nếu những người trong phái đoàn chính phủ VN tham dự cuộc điều trần này truyền đạt lại một cách trung thành cho những người có trách nhiệm tại VN thì tôi nghĩ những người có trách nhiệm tại VN họ cũng phải để ý đến những ý kiến của Châu âu này và lúc đó họ phải ứng xử một cách phù hợp »

EVFTA được khởi động đàm phán từ tháng 6-2012. Cho đến nay, hai bên đã có 14 vòng đàm phán chính thức và nhiều vòng đàm phán giữa kỳ. EVFTA chính thức kết thúc đàm phán tháng 12 năm 2015 và dự định ký kết trong tháng 12/2017 nhưng sau đó được hoãn lại tới đến giữa năm 2018, nhưng sau đó lại được hoãn lại đến tháng 3 năm 2019. Cuộc điều trần ngày 10/10 vừa qua rất có thể sẽ là yếu tố quyết định con thuyền EV FTA sẽ ghé bến vào tháng 3 năm tới hay lại phải tiếp tục cuộc hành trình đầy chông gai của nó.

Ân Xá Quốc Tế cảnh báo về Luật An Ninh Mạng của Việt Nam

https://www.rfa.org/vietnamese/news/vietnamnews/amnesty-international-warns-of-cyber-security-law-10122018083855.html

RFA
2018-10-12

Hình minh họa của Ân Xá Quốc TếHình minh họa của Ân Xá Quốc Tếicon-zoom.png Courtesy Amnesty International

Ân xá Quốc tế cảnh báo Luật An ninh mạng của Việt Nam sẽ có hiệu lực trong 2 tháng tới

Tổ chức Ân xá Quốc tế ngày 11/10 phát đi hình ảnh cảnh báo cho thấy Luật An ninh mạng còn 2 tháng nữa sẽ có hiệu lực thi hành sau khi Quốc hội Việt Nam bấm nút thông qua vào ngày 12/6/2018, bất chấp phản đối của nhiều người dân tại Việt Nam.

Ông Nguyễn Trường Sơn, người phụ trách vận động khu vực Đông Nam Á và Thái Bình Dương của tổ chức Ân xá Quốc tế (Amnesty International) viết trên Facebook cá nhân rằng trong dự thảo nghị định hướng dẫn luật an ninh mạng mới ra đời, các điều khoản của nghị định này sẽ yêu cầu các công ty dịch vụ internet bao gồm cả Facebook, Google, Zing lẫn Zalo lưu trữ quan điểm chính trị, các mối quan hệ, lịch sử nhắn tin, thông tin tài khoản, số bảo hiểm xã hội và cả chi tiết tài khoản ngân hàng của người dùng. Và nguy hại hơn, cơ quan chức năng được quyền biết các thông tin đó bất cứ lúc nào họ muốn.

Ông Nguyễn Trường Sơn viết rõ “nếu bạn còn không chắc về mối họa mà luật An Ninh Mạng đem lại, thì giờ bạn đã rõ rồi chứ?"

Hôm 10/10/2018, trên Fanpage của blooger Lê Nguyễn Hương Trà cũng đăng tải bản dự thảo hơn 40 trang – Qui định chi tiết một số điều của Luật An ninh mạng được gửi đi lấy ý kiến các bộ, ngành.

Đáng chú ý là trong điều 54 của dự thảo này, những công ty cung cấp dịch vụ Internet ở Việt Nam như Facebook, Google… sẽ phải lưu trữ thông tin như các cuộc trò chuyện, thông tin giao dịch, thói quen tìm kiếm… và phải cung cấp cho Cục trưởng Cục An ninh mạng khi có yêu cầu điều tra.

Chuyến bay dài nhất thế giới chính thức cất cánh – Florida thành phố trong đống đổ nát

Chuyến bay dài nhất thế giới chính thức cất cánh
Ngày 11/10, chuyến bay dài nhất thế giới đã chính thức cất cánh từ Singapore với điểm đến là New York, Mỹ.

Máy bay Airbus A350-900 ULR của Singapore Airlines. (Ảnh: CNN)

Chuyến bay này của hãng hàng không Singapore Airlines, kéo dài gần 19 tiếng. Chiếc máy bay phục vụ chặng bay kỷ lục này là Airbus A350-900 ULR, sẽ chở tổng cộng 161 hành khách.

Trong quá khứ đã có những chuyến bay dài tương đương như vậy nhưng sau đó đã bị dừng vì chi phí cao và nhu cầu thấp.

Chuyến bay hơn 16.000 km nối liền Singapore và New York, được đánh giá sẽ đánh dấu cho sự cạnh tranh mới trong ngành hàng không, đặc biệt trong phân khúc những chuyến bay dài, không có chặng dừng.

Hôm nay (11/10), Hãng hàng không quốc gia Singapore sẽ bắt đầu thực hiện các chuyến bay thương mại dài nhất thế giới, nối giữa Singapore và thành phố New York của Mỹ

Florida thành phố trong đống đổ nát

baomai.blogspot.com
baomai.blogspot.com
baomai.blogspot.com
baomai.blogspot.com
baomai.blogspot.com
baomai.blogspot.com
baomai.blogspot.com
baomai.blogspot.com
baomai.blogspot.com
baomai.blogspot.com
baomai.blogspot.com
baomai.blogspot.com
baomai.blogspot.com
baomai.blogspot.com
baomai.blogspot.com
baomai.blogspot.com
baomai.blogspot.com
baomai.blogspot.com
baomai.blogspot.com
baomai.blogspot.com
baomai.blogspot.com
baomai.blogspot.com
baomai.blogspot.com
baomai.blogspot.com
baomai.blogspot.com
baomai.blogspot.com
baomai.blogspot.com
baomai.blogspot.com
baomai.blogspot.com
baomai.blogspot.com
baomai.blogspot.com
baomai.blogspot.com
baomai.blogspot.com
baomai.blogspot.com
baomai.blogspot.com
baomai.blogspot.com
baomai.blogspot.com
image
baomai.blogspot.com
baomai.blogspot.com
baomai.blogspot.com
baomai.blogspot.com
baomai.blogspot.com
baomai.blogspot.com
baomai.blogspot.com
baomai.blogspot.com
baomai.blogspot.com
baomai.blogspot.com
baomai.blogspot.com

baomai.blogspot.com

ARVN: QLVNCH: Nhảy Dù QLVNCH bị quên lãng – Tác giả: Barry R. Mccaffrey

Poster_of_Recruitment_for_ARVN_Airborne_Battalion.jpg

Tác giả: Barry R. Mccaffrey
Nhay-Du-2.jpg?resize=640%2C466&ssl=1

Cựu Ðại Tướng Barry McCaffrey. (Hình: Frederick M. Brown/Getty Images)

Nhảy Dù QLVNCH bị quên lãng

Tôi đặt chân lên Miền Nam nước Việt Tháng Bảy, năm 1966, và trong suốt năm kế tiếp đó tôi làm Cố vấn quân sự cho Sư Đoàn Nhảy Dù Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Đó là năm cuối chúng tôi nghĩ mình thắng. Đó là năm cuối chúng tôi đã có thể định nghĩa như thế nào mới được gọi là thắng. Đấy là năm của lạc quan, năm mà quân số Hoa Kỳ ào ạt đổ bộ vào miền Nam và hầu như nắm quyền kiểm soát cuộc chiến từ tay quân Nam Việt – và là năm mà con số thương vong của lính Mỹ tăng ngoài sự tưởng tượng.

Đến cuối năm 1967, có 486,000 quân nhân tác chiến Hoa Kỳ tham dự trên chiến trường Việt Nam. Con số lính Mỹ tử trận trong năm này phỏng chừng đã tăng gấp đôi kể từ 1966. Giữa những sự kiện nêu trên, thì sự hy sinh, lòng can đảm và sự cam kết của quân đội Miền Nam Việt Nam lại hoàn toàn vắng bóng theo nhận thức từ các giới chính trị và truyền thông Hoa Kỳ.

Sư Đoàn Nhảy Dù Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (SĐND-QLVNCH), đơn vị mà tôi đã gia nhập với tư cách là một phụ tá cố vấn cấp Tiểu đoàn, là một đơn vị tinh nhuệ. Tới năm 1967, quân số SĐND-QLVNCH đã tăng lên đến 13,000 người, họ mặc quân phục tác chiến mầu hoa rừng và đầu đội Mũ Beret Đỏ, và tất cả đều là quân tình nguyện. Những người (cố vấn) như chúng tôi đây đã được vinh dự phục vụ với họ đều phải lác mắt trước tấm lòng can đảm và chiến thuật rất độc đáo của họ. Những sĩ quan cao cấp và những hạ sĩ quan ND-VNCH đều là những chiến sĩ giỏi dang và dày dạn kinh nghiệm chiến trường; với những người lính Mỹ mới đến Việt Nam, họ dễ dàng quên rằng có nhiều người lính nhảy dù VNCH này đã có mặt trên chiến trường này từ năm 1951.

Là những sĩ quan cố vấn chuyên về tham mưu và liên lạc ở cấp Tiểu đoàn và Lữ đoàn. Chúng tôi có một năm chuẩn bị tại tiểu bang California, chương trình gồm 16 tiếng một ngày chỉ mỗi một việc là tìm hiểu văn hóa và học tiếng Việt tại trường Sinh ngữ Quốc phòng. Sau khi mãn khóa tôi nói được tiếng Việt cũng kha khá. Phần hai, gồm các lớp huấn luyện chiến thuật chống bạo loạn và cách sử dụng những loại vũ khí có từ thời Đệ nhị Thế chiến để lại mà QLVNCH vẫn còn xài lúc bấy giờ, đã được tổ chức tại căn cứ Fort Bragg, tiểu bang North Carolina.

doanquandqlvnchbiquenlang_002.jpg

Tác giả đứng bên phải, cùng với Đại tá James B. Bartholomees
sau một trận chiến phía nam thành phố Đà Nẵng, Nam Việt Nam, năm 1966

Thông thường, một toán cố vấn cấp Tiểu đoàn như tôi gồm có 3 quân nhân Mỹ: một Đại úy, một Trung úy và một Hạ sĩ quan thâm niên, thường là một Trung sĩ. Những quân nhân cấp bậc Trung sĩ là thành phần nòng cốt: Trong lúc các sĩ quan được luân chuyển đi đi về về, thì các hạ sĩ quan đều phải ở lại tại các đơn vị QLVNCH mà họ được bổ về cho đến lúc chiến tranh chấm dứt – hay họ “rửa cẳng lên bàn thờ” hoặc bị địch hạ đo ván tại trận địa (tức bị thương).

Đặt chân lên đất Việt lần đầu tiên, tôi được giới thiệu bằng một kinh nghiệm đẫm máu. Chúng tôi đổ bộ bằng các thuyền xung kích của Hải Quân và những chiếc trực thăng của Lục quân Mỹ, trên một cánh đồng đầm lầy thuộc đồng bằng sông Cửu Long, phía nam thủ đô Sài Gòn. Đây là trận chiến chẳng một chút vinh hiển, đánh nhau và chết đuối trên đồng nước mặn sình lầy nhơ nhớp. Không một chuyến phiêu lưu nào ở đây gợi cho chúng tôi một chút mảy may giống nơi mà chúng tôi đã được thụ huấn lớp Rừng Núi Sình lầy tại Mỹ. Ông Đại úy của tôi, một sĩ quan cố vấn rất giỏi và dày dạn chiến trường, tử thương. Khi về đến căn cứ, tôi phụ khiêng xác ông ra khỏi chiếc trực thăng tản thương. Đây mới chỉ là “món ăn chơi” đầu tiên.

Bốn tháng trôi qua trong tua đầu tiên của tôi với binh chủng Nhảy Dù QLVNCH, chúng tôi đã tham dự một trận đánh rất lớn và đẫm máu, mục đích để yểm trợ cho những đơn vị Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đang hành quân phía bắc Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, cận vùng duyên hải bắc Trung phần-Nam Việt Nam. Hai Tiểu đoàn Nhảy dù của chúng tôi đổ bộ bằng trực thăng xuống vùng Khu-phi-Quân sự để kiểm soát và chận đứng một lực lượng lớn của CSBV đang tiến về nam. Nơi đây đã trở thành một bãi chiến trường khốc liệt và đẫm máu kéo dài 3 ngày. Vị sĩ quan cố vấn chỉ huy của tôi tử thương. Thượng sĩ Nhất Rudy Ortiz là một quân nhân rất giỏi và kinh nghiệm chiến trường bị thương khắp châu thân. Anh ta nhờ tôi lắp giùm băng đạn vào khẩu súng trường M-16 và đặt nó lên ngực cho anh để anh ta có thể “tử chiến” cùng với chúng tôi (may mắn thay, anh ta sống sót sau trận này).

doanquandqlvnchbiquenlang_003.jpg

See the source image

f23VgGV.gif

andy
See the source image

Phía chúng tôi hy sinh hàng trăm binh sĩ và gần như bị địch quân tràn ngập.. Nhưng những người lính Nhảy Dù QLVNCH đã chiến đấu một cách gan lì. Vào thời khắc nguy kịch nhất, được Không-Hải pháo yểm trợ, chúng tôi đã phản công. Vị sĩ quan chỉ huy của Tiểu đoàn mà tôi cố vấn lúc đó đã đứng thẳng lưng, đi bộ giữa lằn đạn chằng chịt đến hố cá nhân của tôi và nói: “Trung úy, giờ chết đã điểm.” Câu nói ấy làm tôi lạnh xương sống mỗi khi nhớ đến.

Trên chiến trường, lính Nhảy Dù VNCH không quen để lại chiến địa xác đồng đội, Thương binh và vũ khí của mình. Trong một trận khác, người bạn cùng khóa sĩ quan tại trường West Point với tôi, Tommy Kerns, một cầu thủ Foot Ball to lớn vạm vỡ, bị thương nặng, nằm kẹt trong một giao thông hào hẹp trong lúc Tiểu đoàn Nhảy dù mà anh ta cố vấn đang chiến đấu phá vòng vây trước một lực lượng lớn của quân địch. Các chiến binh Nhảy dù VN nhỏ bé hơn anh ta nhiều, đã không thể kéo anh ra khỏi giao thông hào để đem theo họ. Thay vì rút đi và bỏ mặc anh ta nằm lại, quân Nhảy dù VNCH đã ở lại vị trí chiến đấu khốc liệt với quân địch và sau cùng đã chiến thắng. Ông cố vấn này sống sót vì tinh thần không bỏ đồng đội và lòng can đảm của các chiến binh Nhảy dù QLVNCH.

Các anh cố vấn Mỹ và đa số các đơn vị thuộc SĐND-QLVNCH đóng tại và quanh thành phố Sài Gòn. Chúng tôi rất chuộng cái không khí nhộn nhịp và đầy sinh khí của thành phố này. Chúng tôi yêu mến văn hóa, tiếng Việt và người Việt Nam. Chúng tôi tự hào ghê gớm lắm về địa vị của chúng tôi với mầu Mũ Đỏ. Chúng tôi chắc mẩm rằng cả thế giới ganh tị với sự bổ nhiệm của chúng tôi về BCND – Chúng tôi làm việc chung với thành phần ưu tú của quốc gia này.. Với số lương bổng tác chiến và tiền phụ trội cho chiếc bằng nhảy dù, chúng tôi đã cảm thấy hình như mình rủng rỉnh tiền bạc lắm, chúng tôi sống trong những căn phòng có máy điều hòa không khí. Chúng tôi lúc đó trẻ lắm, rất ư táo bạo-ngổ ngáo và hiếu thắng. Những quan năm, quan sáu Nhảy dù người Mỹ chỉ huy các cố vấn trẻ chúng tôi thì già dặn hơn, vững chãi và dày dạn phong sương, kinh nghiệm chiến trường… đã từng kinh qua nhiều pha bựa hơn thế trong Thế chiến thứ II và chiến trường Triều Tiên.

Đời sống của một cố vấn Mỹ cho SĐND-QLVNCH khó đoán trước được. Công việc của Sư đoàn là phục vụ dưới nhãn hiệu trừ bị chiến lược, sẵn sàng ra đơn vị tác chiến khi các quan chỉ huy mặt trận cần gấp. Một Tiểu đoàn Nhảy dù hay một Lữ đoàn ND-QLVNCH đầy đủ ứng chiến trong trường hợp phải đổ quân khẩn cấp ngay giữa đêm khuya. Chúng tôi phải ép mình lên các phi cơ vận tải của không lực Hoa Kỳ và KQVNCH đang ngồi đợi trên những phi đạo dài với tiếng máy ầm ĩ tại phi trường Tân Sơn Nhất, gần Sài Gòn. Đạn dược được phân phát cho binh sĩ. Trong vài trường hợp, những chiếc dù cũng được phân phát cho mọi người. Đó là một kế hoạch hành quân gấp rút.

Và sau đó thì là – tan tành. Những Tiểu đoàn Nhảy dù đổ quân bất cứ nơi nào cần đến họ. Chúng tôi có thể đến bất cứ nơi nào trên quốc gia này và nhập ngay vào giữa một cuộc chạm súng. Có nhiều cố vấn Mỹ và hàng trăm lính Nhảy dù QLVNCH mà tôi đã từng hành quân với họ… đã không trở về sau các cuộc hành quân như thế. Tôi vẫn còn hình dung được những khuôn mặt trẻ của họ ngày nào. Đại úy Gary Brux. Đại úy Bill Deuel. Trung úy Chuck Hemmingway. Trung úy Carl Arvin. Người lính rất trẻ quảy máy truyền tin cho tôi, Binh Nhì Michael Randall, tất cả đã tử trận. Can đảm và Kiêu hãnh.

Việt Nam không phải là tua đầu tiên của tôi. Sau ngày mãn khóa trường quân sự West Point, tôi gia nhập Sư Đoàn 82 Nhảy Dù Hoa Kỳ lúc sư đoàn này đang can thiệp vào chuyện của Cộng Hòa Dominican năm 1965. Chúng tôi đổ bộ xuống đảo này và đã tiêu diệt lực lượng Nổi dậy thân cộng sản Cuba và sau đó đã ở lại làm việc dưới nhãn hiệu Lực lượng gìn giữ hòa bình của tổ chức các quốc gia Châu Mỹ. Lúc đó chúng tôi tưởng đó là tác chiến thật sự, và khi chúng tôi về đến căn cứ Fort Bragg, chúng tôi nóng lòng sang Việt Nam – có nhiều thiếu úy thuộc Tiểu đoàn bộ binh của tôi đã nhảy lên một chiếc xe và lái thẳng về các bộ tư lệnh lục quân ở Washington để tình nguyện đi Việt Nam chiến đấu. Chúng tôi nghĩ mình sẽ mất đi cơ hội tham dự cuộc chiến này nếu không nhanh chân ghi danh.

Và bây giờ thì chúng tôi đã tỏ tường về kết thúc của câu truyện này. Hai triệu người Việt có lẽ đã vong mạng. Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ mất 58,000 chiến binh và 303,000 bị thương. Nước Mỹ đã bị lôi cuốn vào một cuộc nội chiến chính trị rối loạn và cay đắng. Thời đó chúng tôi không biết gì cả. Tôi rất lấy làm hãnh diện được chọn để phục vụ với Sư Đoàn Nhảy Dù QLVNCH. Bà tân phu nhơn và đẹp nhất làng của tôi, người mà tôi mê say đắm, biết tôi phải ra đi. Bố tôi, một tướng Lục quân Hoa Kỳ, sẽ vinh danh tôi nếu tôi tử trận.

Tất cả những điều này đã chấm dứt 50 năm qua. Những chiến binh SĐND-QLVNCH còn sống sót sau cuộc chiến đã vượt biên qua ngả Cam-bốt hay đã trải qua một thập niên tù đày trong những lao ngục dã man, gọi là trại “cải tạo”, của cộng sản. Đa số đã đến được nước Mỹ. Hiện nay chúng tôi có một Hiệp hội các Cố vấn Mỹ và những đồng đội chiến binh Nhảy dù QLVNCH, và một Bia đá chiến sĩ trận vong Nhảy Dù được xây dựng tại Nghĩa Trang Quốc Gia Arlington cho những cố gắng của chúng tôi. Chúng tôi tụ họp ở nghĩa trang này hằng năm để cùng tưởng nhớ về cách chúng tôi đã chiến đấu bên nhau. Đầu Chúng tôi đội Mũ Đỏ. Chúng tôi cười với nhau về những chuyện xưa, nhưng có một nỗi buồn sâu thẳm đó là chúng tôi mất mát quá nhiều, mà chẳng đi đến đâu.

Người ta thường hỏi tôi về những bài học rút ra từ cuộc chiến Việt Nam. Với những chiến binh Hoa Kỳ đã từng chiến đấu với các chiến binh SĐND-QLVNCH là những người không cần đặt câu hỏi. Tất cả những gì ta nhớ và biết đó là lòng can đảm bền bỉ và quyết tâm tiến ra sa trường của những binh sĩ SĐND-QLVNCH. Họ không có tượng đài kỷ niệm mà chỉ nằm trong ký ức của chúng ta.

Tác giả: Barry R. Mccaffrey

Một ít về tác giả Barry R. Mccaffrey: Ông Barry McCaffrey (@mccaffreyr3) nguyên là Cố vấn quân sự cho Sư Đoàn Nhảy Dù QLVNCH trong thời chiến. Ông về hưu sau khi đã được thăng cấp Đại tướng QL Hoa Kỳ. Sau này ông phục vụ trong chính quyền Bill Clinton với tư cách là “Ông Hoàng bài trừ Ma túy” và hiện tại ông là nhà Bình luận về vấn đề An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ cho Thông tấn xã NBC (National Broadcasting Company).

Image result for Lính Nhảy Dù VNCH bị quên lãng

Bản Anh ngữ

The Forgotten South Vietnamese Airborne
Source: https://www.nytimes.com/2017/08/08/opinion/south-vietnam-airborne.html

doanquandqlvnchbiquenlang_001.jpg

Troops of the Third Batallion, 60th Infantry, 9th Division, 2nd Brigade

arrive in the United States after being withdrawn from Vietnam in 1969.
Credit Bettmann, via Getty Images

I arrived in Vietnam in July 1966, and for the next year I served as an adviser with the South Vietnamese Airborne Division. It was the last year we thought we were winning. It was the last year we could define what we thought winning would be. It was a year of optimism, of surging American troop strength that largely took over the war from the Vietnamese — and of wildly expanding American casualty lists.

By the end of 1967, there were 486,000 American troops in the battle. The number of Americans killed in action that year roughly doubled from 1966. Amid all of that, the sacrifice and valor and commitment of the South Vietnamese Army largely disappeared from the American political and media consciousness.

The South Vietnamese Airborne Division, which I joined as an assistant battalion adviser, was an elite combat unit. By 1967 these paratroopers, with their camouflaged jump uniforms and distinctive red berets, had grown to 13,000 men, all volunteers. Those of us privileged to serve with them were awe-struck by their courage and tactical aggressiveness. The senior officers and noncommissioned officers were extremely competent and battle hardened; it’s easy to forget that while the Americans were new to Vietnam, many of these men had been at war since 1951.

As advisers, we essentially acted as staff and liaison officers at the battalion and brigade levels. We had spent a year preparing in California, including 16-hour days of cultural and language immersion at the Defense Language Institute. I ended up with a sub-fluent command of spoken Vietnamese. Counterinsurgency tactics and training in the World War II-era weapons systems that the Vietnamese still used took place at Fort Bragg, N.C.

Vietnamese Airborne Division 's Insignia.svg

Image result for Lính Nhảy Dù VNCH bị quên lãng

Normally, a battalion-level advisory team like mine consisted of three men: an American Army captain, a first lieutenant and a senior noncommissioned officer, usually a sergeant. The sergeants were the core: While officers rotated in and out, many of the sergeants stayed with their assigned South Vietnamese units until the end of the war — or until they were killed or knocked out of the fight.

My introduction to Vietnam was a bloody experience. We deployed by American Navy assault boats and Army helicopters into the swampy river delta south of Saigon. This was combat without glory, fighting and drowning in the saltwater muck. There was none of the adventure that we felt in Ranger school. My captain, an incredibly professional and competent senior adviser, was killed. Back at base, I helped carry his body off the helicopter. It was only the beginning.

Four months into my tour with the airborne we were involved in a giant, bloody battle supporting American Marine units north of Dong Ha, near the coast in the northern part of South Vietnam. Two of our battalions were inserted by helicopter into the Demilitarized Zone to check a significant force of North Vietnamese moving south. It turned into three days of intense and bloody combat. My senior adviser was killed. Our incredibly courageous noncommissioned officer, Master Sgt. Rudy Ortiz, was riddled from head to foot. He asked me to load his M-16 and put it on his chest so that he could “die fighting” with the rest of us (luckily, he survived).

We took hundreds of casualties and came very close to being overrun. But the South Vietnamese paratroopers fought tenaciously. At the critical moment, with supporting air and naval fire, we counterattacked. The executive officer of my Vietnamese battalion walked upright through heavy automatic weapon fire to my foxhole. “Lieutenant,” he told me, “it is time to die now.” It gives me chills to remember his words.

In combat, the South Vietnamese refused to leave their own dead or wounded troopers on the field or abandon a weapon. In another battle one of my West Point classmates, Tommy Kerns, a huge Army football player, was badly wounded and stuck in a narrow trench as his airborne battalion tried to break contact with a large North Vietnamese force. The Vietnamese paratroopers with him, all much smaller than Tommy, couldn’t haul him out of the trench. Rather than withdraw and leave him, they held their ground and won a violent engagement over his giant wounded body. He survived because of their courage.

The America advisers and most of the Airborne Division were stationed in and around Saigon. We loved the energy and fun of the city. We loved the culture and the language and the Vietnamese. We were terribly proud of our status with the Red Berets. We were sure the entire world envied our assignment — we were working with the country’s elite. With combat and airborne pay, we had what seemed like a ton of money. We lived in air-conditioned quarters. We were young and harebrained and aggressive. The American colonels and lieutenant colonels who ran the advisers were older, stable and battle-hardened men who had seen much worse combat in World War II and Korea as paratroopers.

Life as an adviser in the Vietnamese Airborne Division was unpredictable. The division’s job was to serve as a strategic reserve, to be inserted into combat whenever commanders needed an edge. A Vietnamese airborne battalion or a full brigade would be alerted for emergency deployment in the middle of the night. We would cram into American and Vietnamese Air Force transport planes, which sat, engines roaring, in long lines at Ton Son Nhut Air Base, near Saigon. Live ammo would be issued. Sometimes parachutes were issued.. A hurried battle plan.

And then — mayhem. The battalions deployed to wherever they were needed. We could head anywhere in the country and find ourselves in the middle of a firefight. Many of the America advisers and hundreds of the Vietnamese paratroopers I served with did not come back from these operations. I can see their young faces still. Capt.. Gary Brux. Capt. Bill Deuel. Lt. Chuck Hemmingway. Lt. Carl Arvin. My very young radio operator, Pvt. Michael Randall. All dead. Brave. Proud.

Vietnam wasn’t my first combat tour. After graduating from West Point, I joined the 82nd Airborne Division in the Dominican Republic intervention in 1965. We had deployed to the island and quashed the Cuban-inspired Communist uprising, and then stayed as an Organization of American States peacekeeping force. We thought that was what combat meant, and when we returned to Fort Bragg, we were eager to get to Vietnam — several lieutenants from my infantry battalion jumped into a car and drove all the way to Army headquarters in Washington to volunteer for the battle. We thought we were going to miss the war.

Now we know the end of the story. Two million Vietnamese probably died. The United States lost 58,000 and 303,000 were wounded. America descended into a bitter and convulsive political civil war. We knew nothing of it then. I was so very proud to have been selected to serve with the Vietnamese airborne. My new and beautiful wife, whom I loved dearly, knew I had to go. My dad, an Army general, would honor me if I was killed.

All this was over 50 years ago. The Vietnamese Airborne Division soldiers who survived the collapse of South Vietnam either escaped through Cambodia or went through a decade of brutal “re-education” camps. Most of them eventually made it to the United States. We have an association of the American advisers and our Vietnamese comrades, and there is a memorial to our efforts at Arlington National Cemetery. We gather there every year and remember how we fought together. We wear our red berets. We laugh at our old stories, but there is a deep sadness that we lost so many, and that it came to nothing.

People often ask me about the lessons of the war in Vietnam. Those of us who fought with the Vietnamese Airborne Division are not the ones to ask. All we remember and know is the enduring courage and determination of the Vietnamese Airborne privates pushing forward into battle. They have no monuments except in our memories.

__._,_.___