Thủ Thiêm, giọt nước tràn ly

https://baotiengdan.com/2018/11/15/thu-thiem-giot-nuoc-tran-ly/

Thủ Thiêm, giọt nước tràn ly

FB Trần Quang Vũ

15-11-2018

Thủ Thiêm, Văn Giang, Dương Nội, Đồng Tâm… và rất nhiều nơi khác đã tạo nên một tầng lớp mới của xã hội, gọi là “dân oan”. Mỗi năm, các cơ quan nhà nước nhận được khoảng 20.000 đơn thư khiếu kiện, trong đó có 70 đến 80% là đất đai.

Có lẽ, sự kiện Thủ Thiêm gợi ý những người có trách nhiệm cho nghiên cứu thấu đáo hơn về vấn đề đất đai.

Thông qua đất đai để tham nhũng là phổ biến nhất, tràn lan nhất, khủng khiếp nhất. Đảng đang chống tham nhũng, lấy lại lòng tin của nhân dân mà không giải quyết vấn đề đất đai cả về lý luận và thực tiễn thì khó đạt được điều mong muốn.

Tôi viết về nó như một góp ý có trách nhiệm.

Cuối cuộc kháng chiến chống Pháp (1946-1954), Đảng và nhà nước làm CCRĐ với khẩu hiệu “người cày có ruộng”, lấy đất công điền, tịch thu ruộng đất của địa chủ, cường hào chia cho dân nghèo. Việc này được Đảng nâng lên tầm lý luận là: Cuộc cách mạng dân chủ (CMDC).

Lứa chúng tôi và nhiều lứa khác được dạy dỗ: cách mạng dân tộc là giải phóng đất nước khỏi ngoại xâm và cách mạng dân chủ là người cày có ruộng (không phải khái niệm dân chủ như hiện nay – xin người đọc đừng hiểu lầm).

Tổng quan lại, cuộc CMDC của nước ta đã đi một vòng tròn và khó giải thích về lý luận. Từ tịch thu ruộng của địa chủ chia cho dân nghèo, đến thu hồi ruộng của dân để giao cho tầng lớp tư sản mới (các chủ doanh nghiệp).
Hành trình đó được khép kín như sau:

*1953-1954 tịch thu ruộng đất địa chủ, lấy đất công điền chia cho nông dân.

*1958-1960, hợp tác hoá nông nghiệp, người dân góp ruộng thuộc sở hữu của mình vào làm ăn tập thể. Ban đầu vẫn được chia hoa lợi. Nhưng tâm lý đã chuyển dần sang là đất của HTX.

*1980 thay đổi hiến pháp, chỉ một nhóm từ “đất đai thuộc sở hữu nhà nước”, tự dưng dân toàn quốc mất đất mà Nhà nước không thông qua trưng thu, trưng mua. Không nơi đâu có sự phản đối vì hai lý: 1. Tuyệt đối tin vào Đảng và NN và 2. Tâm lý không phải đất của mình mà là của HTX.

* Trước đó, năm 1979, toàn dân đói kém khi mọi nguồn viện trợ bị cắt, Đảng ban hành NQ6 với đường lối sản xuất lương thực – thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu. Các cơ quan Trung ương cũng tìm đất phá hoang để sản xuất lương thực. Ngoài làm cho HTX, các xã viên được khai hoang mọi diện tích làm kinh tế riêng. Bắt đầu xuất hiện các diện tích đất tư.

*1981, Chính phủ ban hành QĐ 201Ttg, văn bản quản lý đất đai đầu tiên cho cả nước với tư tưởng đất đai là tư liệu sản xuất thuộc sh NN nên: “cấm mọi hành vi mua bán đất đai”. Đất khai hoang nói ở 1979 không đưa vào diện quản lý.

*1986, khi nền kinh tế suy sụp, dân đói triền miên, BCT ban hành NQ 100 cho khoán thử và sau đó Trung ương ban hành NQTW10 cho khoán ruộng trong toàn quốc, đất đai của HTX nhưng giao khoán cho từng hộ (sau này gọi là khoán 10).

*1987, tư tưởng của Đảng và Nhà nước là biến ruộng khoán sẽ chuyển từ HTX sang cho hộ nông dân nên QH xây dựng Luật đất đai để áp dụng từ 1988. Để có bản đồ làm cơ sở quản lý, CP cho đo đạc và xây dựng bản đồ, sổ mục kê theo QĐ 299. Sau này giải quyết tranh chấp đất Nhà nước căn cứ vào bản đồ 299 là nguồn gốc từ đây. Luật 1987 đã bắt đầu có quy định về Nhà nước thu hồi đất của nông dân nhưng thu hồi đất loại nào (loại theo chế định kiểu nông nghiệp, thổ cư, chuyên dùng chứ không phải hạng điền) thì trả lại đất ấy và trả đủ diện tích đã thu hồi. Không biết tại sao Luật này không áp dụng, đến nay không ai nhắc đến, như nó chưa từng có.

*1993 QH làm luật khác, luật này có hiệu lực từ 15/10/1993. Trong đó có mấy điểm sau đây cần chú ý: cấp đất, thu hồi đất phải trên quy hoạch, kế hoach; Thủ tướng cấp thu hồi từ 1ha trở lên, Chủ tịch tỉnh dưới 1ha; Chỉ thu hồi đất có đền bù cho 4 loại công trình: an ninh, quốc phòng, vì lợi ích quốc gia, vì lợi ích công cộng; các DN chỉ được thuê đất (NĐ18CP). Cũng cần nói thêm, hồi đó ông Kiệt làm Thủ tướng, tư tưởng pháp quyền trong đất đai rất rõ. Ông còn có văn bản pháp lý hẳn hoi về đất doanh trại, gia binh, đất làm kinh tế quân đội không thuộc đất quốc phòng… Luật này có nhược điểm là khó khăn trong việc chuyển đất Nhà nước sang đất làm kinh tế khác như KCN, nhà máy.

*2003, Luật đất đai sửa đổi bổ sung có một điều tiến bộ là được thu hồi đất vì mục đích kinh tế, nhưng người được hưởng lợi phải thương lượng với người đang sử dụng đất. Nếu điều này được áp dụng trên hai nguyên tắc là giá thị trường hoặc góp đất quy thành cổ phần thì đất nước không xuất hiện dân oan. Vấn đề không nằm ở luật mà ở áp dụng luật: chính quyền dùng sức mạnh nhà nước, dùng vũ trang để đồng hành với doanh nghiệp ép dân thu hồi đất tạo ra điều vô lý: doanh nghiệp hưởng lợi còn chính quyền nhân dân thì đàn áp nhân dân tạo ra mâu thuẫn, kể cả đổ máu như Văn Giang, Đồng Tâm, tù đày như Dương Nội, mâu thuẫn kéo dài như Thủ Thiêm… Nếu dừng tại đây và điều chỉnh hai điều như đã nói thì mâu thuẫn được khu trú. Vì sao chính quyền bạo tay với dân, ai cũng đoán ra.

*2013, Quốc hội tiến thêm một bước nữa là không cần doanh nghiệp thoả thuận với người sử dụng đất mà Nhà nươo1c đứng ra thu hồi, GPMB và từ luật 2003 cho Chủ tịch cấp huyện có quyền cấp đất thu hồi đất với hạn mức nhất định thì: Chúng ta đã đi một vòng khép kín từ tước đoạt đất địa chủ chia cho dân cày, đến thu hồi đất đai từ nông dân để giao cho tầng lớp tư sản mới.

Lưu ý thêm rằng, dù từ khi chia ruộng CCRĐ đến góp ruộng vào HTX và các luật sau này là cơ sở cấp giấy tờ về đất, nhưng từ năm 1958, những tờ giấy cấp chủ quyền về đất cuối cùng của thời sở hữu đất đã cách đây 60 năm còn sang thời dân chỉ còn quyền sử dụng vẫn chưa xong cấp giấy tờ. Việc chạm cấp giấy tờ là cửa ăn bẩn của rất nhiều quan chức.

Status này đã quá dài nên phần tham nhũng và hư hỏng từng mảng từ đất đai sẽ viết vào dịp gần đây.

Đánh chó không nhìn chủ nhà

https://baotiengdan.com/2018/11/14/danh-cho-khong-nhin-chu-nha/

Đánh chó không nhìn chủ nhà

Hoàng tự Minh

14-11-2018

Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tồn tại bốn cái động cơ vĩnh cửu, đại khái nó là cái máy, cái dây chuyền, vật thể, tư tưởng hoặc là một cái thây tự chuyển động, tự nuôi sống mà không cần tiếp năng lượng.

Một, nước CHXHCN Việt Nam muôn năm. Hai, Đảng CSVN quang vinh muôn năm. Ba, Hồ Chủ tịch vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta. Bốn, Chủ nghĩa Mác Lê vô địch muôn năm. (Có lúc là “bách chiến bách thắng”).

Riêng tổ quốc thì không được quang vinh, không được vô địch và không được sống mãi. Dù có yếu tố muôn năm, nhưng khả năng chết yểu là rất cao, giỏi lắm là đến 2021, chỉ còn một động tác là dỡ hàng rào biên giới Việt Trung.

Riêng chủ nghĩa Mác Lê mục số 4 có hiện tượng không minh bạch, ý đồ cổ vũ cho bạo lực là tương đối cao, có ý nghĩa đâm chém bạo hành.

Muôn năm, sống mãi chính là những động cơ vĩnh cửu.

Chưa ai trèo lên được đỉnh ngọn núi động cơ vĩnh cửu, trong khi định luật bảo toàn năng lượng vẫn cứ là một định luật.

Những sáng lập viên của chủ nghĩa cộng sản VN đã rất thành công trong vận dụng quy luật “lặp lại” đem áp dụng với các chức năng nghe nhìn trong con người, đến nỗi cái sự dàn xếp trật tự cờ đảng ở trên đầu tổ quốc là một chuyện rất tự nhiên. Thời ông Sinh Hùng, nhìn trường quay quốc hội, tưởng là nơi họp đại hội đảng CSVN.

Những ông bà anh chị rất có vị trí, trí thức học vị, không nên kéo dài sự nhầm lẫn rất hươu nai về bản chất của đảng CSVN có cái tôn chỉ: “Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân,chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình”.

Hãy nhìn những gì các ông tổng bí thư đảng đã và đang làm. Hãy kiên nhẫn mỗi ngày đọc lại chỉ ba dòng hiến pháp của đảng và nhà nước này để thấy lý thuyết và thực tế thực tại.

Khi nghe kết quả bản án 10 năm cho người tù, kẻ “thù địch” của đất nước đương kim, tôi nói gắt nguyên văn: “chế độ chó má!” Tôi không chó má quan tòa vì vật thể này đã là bao gồm. Tôi cũng không đề cập tới những ai đó ủng hộ, tiếp sức cho cái chế độ chó má này.

Khi nghe bà Hoài Anh dùng chữ “đảng ta” rất hồn nhiên trong giờ vàng thời sự quốc gia, tôi buột mồm nói nguyên văn:” Đảng cái L*n”! Bạn thấy đó, tôi kể chuyện rất người, tôi đã có những phản ứng rất thật, tôi còn là con người vẫn còn có thất tình lục dục, ngược lại gọi là vô cảm.

Đảng cộng sản VN “lấy chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”.

Các ông bà đại biểu Quốc hội cũng nên thôi tranh cãi qua lại làm gì vô tích sự, tốn kém, thực ra thì ông bà cũng chẳng sang hơn thường dân tôi là mấy, đảng đã là tất cả rồi đấy thôi. Một lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội trùm mền mắt ti hí nhìn ra và chăn dân từ bên trong hàng rào quân đội, công an, kiến chui không lọt, tuyệt đối trung thành thì đó là gì? Còn có ai dám động đến công an, quân đội? Tất tần tật được giải quyết bằng bạo lực của kẻ mạnh. Chưa qua thì chưa thấm nỗi đau, nỗi nhục của gia đình có người thân bị chết trong đồn công an CSVN. Mạng con người ngang với mạng chó!

Đang lúc này thì ông Nhưỡng chuẩn bị ăn đòn cộng sản, 1.800 cử tri là cán bộ lão thành, sĩ quan hưu trí Bộ Công an quyết bảo vệ màu cờ sắc áo tới cùng. Ai bôi nhọ công an, kẻ đấy đánh chó không nhìn chủ.

Những tên đồ tể bước đi nhưng không tính đường về, cái đĩa cân bên đảng có lũ bưng bô ngày càng nặng trệ làm cho cái đĩa thường dân bên kia đã gần chạm trời.

Cờ bạc và quyền lực: Câu chuyện thiện, ác, tà

https://baotiengdan.com/2018/11/15/co-bac-va-quyen-luc-cau-chuyen-thien-ac-ta/

Cờ bạc và quyền lực: Câu chuyện thiện, ác, tà

FB Nguyễn Hồng Lam

15-11-2018

1. Tháng 8 – 2008, tại khách sạn Caravelle TP Hồ Chí Minh, một buổi hội thảo quốc tế về khả năng hợp pháp hóa thị trường cá cược và các hình thức đánh bạc khác đã diễn ra, có sự tham dự của quan chức các Bộ VHTT, Tài Chính, Bộ Công an và CA TPHCM. Những con số khảo sát thống kê mà Hãng cá cược Broken (Anh) đưa ra đã khiến tất cả cử tọa có mặt phải sửng sốt. Nó là những số tiền quá không lồ nằm ngoài hình dung của tất cả mọi người, kể cả những người máu me và liều lĩnh nhất.

Theo nghiên cứu của Broken, đến cùng thời điểm, mỗi năm người dân Việt Nam chi 4.8 tỷ USD cho riêng các khoản cá cược và cờ bạc, phần lớn là cá độ bóng đá, từ V.League cho đến các trận đấu quốc tế. Tất cả các hoạt động cá cược, bài bạc này đều bị xem là bất hợp pháp. Bất chấp mọi sự cấm đoán và trừng phạt của luật pháp, số tiền chi cho đỏ đen vẫn không hề giảm, chỉ tăng tịnh tiến đều theo thời gian.

Bằng kinh nghiệm tổ chức kinh doanh cá cược lâu năm, Broken cho biết, chỉ xấp xỉ 40% số tiền con bạc bỏ ra cá cược quay trở lại túi dân chơi thắng cược. Trong điểu kiện luật pháp cấm đoán, khâu trung gian nhiều, chi phí tăng, số tiền chi cho mọi khâu dịch vụ, đến tận người phát hành “phơi” (ghi nhận đặt cược)…cùng lắm cũng chỉ chiếm 20% tổng số tiền. Nếu tổ chức tốt, nhà cái sẽ ẵm gọn 40% tổng số tiền đặt cược dưới mọi hình thức.

Để tối ưu hóa lợi nhuận, các hãng cá cược từ quốc tế đến đám ma đầu hang cùng ngõ hẻm đều dùng một chiêu thức giống nhau: đẻ ra càng nhiều hình thức cá cược càng tốt, nhà cái hưởng lợi nhuận nhiều vòng hơn nhờ tỷ lệ chiết khấu. Một trận đấu, từ trước khi bóng lăn đến phút mãn cuộc, tổng cộng Broken có 42 loại kèo khác nhau. Đến tận áp giây cuối cùng của quả pennalty cuối cùng trong loạt sút luân lưu của trận cuối cùng tranh vô địch giải đấu, dân cá cược vẫn có thể tiếp tục bắt kèo với hy vọng đã thắng cược, họ lại tiếp tục thắng thêm kèo nữa. Cứ cho là tỷ lệ thắng thua là 50 – 50, nhà cái vẫn hưởng thêm được 5-10% hoa hồng cho kèo “hốt cú chót” này, móc ra từ hầu bao của những người thắng cuộc. Tuy nhiên, nhiều khả năng, những kèo “nhả ăn xương”, “bẻ kèo”, “ngược kèo”, “đảo lai (like – chọn)” cuối trận, dân thắng cược trước đó sẽ nướng hết số tiền mà họ đã thắng và dân thua kèo trước thì sẽ thua thêm kèo nữa, rồi kèo nữa…

Một ít trong số tiền khổng lồ rụng lại ở các khâu trung gian cò con, gọi là tiền tráng nhựa hoặc tiền lót đường. Một số khác, không nhỏ về con số, nhưng rất nhỏ nếu so tỷ lệ được gọi là bôi trơn để những gì gọi là bất hợp pháp trở nên vô thanh và vô hình, để đường dây hình gân lá của trò cá cược cứ thế mà lan khắp mọi hang cùng ngõ hẻm.

Nhà nước không thu được một xu, trong khi lại phải tốn không ít thời gian, công sức, tiền bạc…để dẹp cờ bạc và cá cược, bị xem như tệ nạn và phạm pháp. Lợi nhuận quá lớn nên chặt vòi này, giác hút khác lại mọc ra. Đồng hành với nói là vô số tệ nạn khác, thậm chí là tội ác, từ cho vay nặng lãi, đòi nợ thuê, bắt cóc tống tiền…v.v.

Không cấm được, tại sao nhà nước không cho phép hợp pháp hóa cá cược và một số hình thức đánh bạc có quản lý, vừa phòng tránh được nhiều tệ nạn, ổn định hơn về an ninh trật tự, lại thu được một khoản thuế không nhỏ lên đến cả tỷ USD/năm. Broken cho rằng, nếu luật pháp Việt Nam cho phép, nhiều hãng cá cược sẽ sẵn sàng hợp tác với nhà nước để đầu tư cùng khai thác, theo tỷ lệ 50-50 trên tổng số lợi nhận mà họ cam kết là từ 30 -40% tổng mực đặc cược, trong khi nha nước không phải bỏ vốn. Chưa kể, nhà nước còn thu thêm được một khoản không nhỏ thuế thu nhập từ người thắng cược.

Tuy nhiên, đề án “hợp pháp hóa cờ bạc” này vẫn không được chấp nhận, ngoại trừ một số nhỏ các môn thể thao với hiệu suất khai thác không đáng kể. Phản đối dẫn đến đề án hợp pháp hóa cá cược và một số hình thức cờ bạc chủ yếu đến từ ngành công an. Tất nhiên, người dân bình thường sẽ không bao giờ biết đủ lý do tại sao.

Và đó chính là cơ hội, cũng là nguyên nhân dẫn những người lẫy lừng một thời như Phan Văn Vĩnh, Nguyễn Thanh Hóa nhảy ra thao túng và vướng vòng lao lý.

2. Nổi tiếng trong cả ngành Công An lẫn trên giang hồ, Phan Văn Vĩnh được xem như một khắc tinh lừng lẫy của giới tội phạm. Vào sinh ra tử nhiều, công lao không ít, nhưng tướng Vĩnh danh nổi như cồn lại chủ yếu nằm ở cách đánh án không giống ai. Trong nhiều trường hợp, thậm chí người ta còn cho rằng ngay từ trẻ, Phan Văn Vĩnh đã dám dùng chiêu thức giang hồ để trị giang hồ, khi cần thì sử dụng cả những phương pháp đánh án rất lạm quền, không thể gọi là hợp pháp, nếu không nói là sẵn sàng gác các quy định sang một bên.

Cách đây đúng 20 năm, dư luận đầy cảm tính đã kê ra 4 cái tên điều tra viên đánh án thuộc hàng nhất nước. Trên Bộ có trung tá Nguyễn Văn Ngọc (Ngọc “điếu” – người bắt Năm Cam lần thứ nhất năm 1995). Thành Nam Định có Trung tá Phan Văn Vĩnh, chết danh Vĩnh “chột” vì dính mảnh lựu đạn trong một vụ là bảo kê tiệm vàng năm 1991. Ở Quảng Nam có Trung tá Huỳnh Đức Cường, Phó phòng PC16 tỉnh, nổi tiếng vì phá nhanh hàng chục vụ trọng án trên quốc lộ 1 và hàng chục vụ khác ở vùng vàng Phước Sơn. Đất Sài Gòn có Trung tá Nguyễn Mạnh Trung, cũng phó phòng CSĐT, nổi tiếng vì khả năng đánh án trong phố và vươn ra khắp nước…

Trước Phan Văn Vĩnh, cả ba Trung tá đồng thời, dù danh nổi như phao, đều có hậu vận không mấy tốt trong sự nghiệp Công An. Suốt 25 cuối đời, Trung tá Nguyễn Văn Ngọc phải sống chung với hàng loạt căn bệnh nan y do nhiễm phóng xạ uranium từ tang vật mà ông vô ý cất giữ cẩn thận trong…tủ hồ sơ tại phòng làm việc. Trung ta Huỳnh Đức Cường dính một vụ lãng xẹt: khai cung thừa nhận xong 2 vụ giết người, một nghi phạm ở Thăng Bình, Quảng Nam đã lăn đùng ra chết tại chỗ, trong khi biên bản khai cung vẫn chưa ký đủ. Cấp dưới lấy cung, khi vụ việc xảy ra ông Cường không có mặt (đang ngồi làm việc với chính tác giả tại trụ sở PC 16). Cho dù sau đó, giám định pháp y độc lập kết luận nghi can chết vì nhồi máu cơ tim cấp do quá sợ bị trừng phạt, vụ việc cũng vẫn ồn ào một thời gian dài. Huỳnh Đức Cường, cấp trên trực tiếp chỉ đạo đánh án, bị kỷ luật, chuyển sang giữ chức phó phòng CS PCCC Công an Quảng Nam ngồi chơi xơi nước, đến tuổi thì về hưu trong im lặng. Người cuối cùng, Trung tá Nguyễn Mạnh Trung thì chôn vùi sự nghiệp bằng một bản án đầy nghi vấn vì bị cáo buộc dính líu đến băng nhóm tội phạm Năm Cam.

Một mình Phan Văn Vĩnh, tay …giang hồ nhất là gặt hái đủ mọi thành công, trở thành Anh hùng LLVTND, Trung tướng Tổng cục trưởng TCCS. Xem như hưởng đủ.

Nhưng tham vọng, nhất là tham vọng quyền lực thì biết bao nhiêu gọi là đủ. Ở tầm quyền lực và trách nhiệm bao trùm, chắc chắn ông Vĩnh không khó gì gì mà không nhận ra thị trường cờ bạc, cá cược khổng lồ. Mà ông lại là người quen thao túng quyền lực hơn là phục tùng nó, cho dù “nó” có là quy định luật pháp đi chăng nữa.

3. Bắt bạc cũng như bắt mại dâm, cứ phải quả tang, ngay tại trận. Mà ngay cả như vậy thì việc xử lý con bạc cũng rất vô chừng, gần như chỉ phụ thuộc vào “sự vận dụng” của những người làm án chứ khó có thể trưng đúng bằng chứng hay dựa đủ căn cứ luật pháp.

Trên báo chí, người ta đã quá quen với thông tin kiểu bắt bạc “khủng” ngay tại sòng, có hàng chục, cả trăm con bạc tham gia, tiền đậu chến mỗi ván từ hàng trăm ngàn đến hàng triệu đồng. Thế nhưng tang vật thu tại chỗ thường chỉ lên đến vài ba trăm triệu. Nghĩa là, mỗi con bạc khủng chỉ mang theo đủ tiền để đặt chừng 1 hay hai nước bạc! Bị điệu ra tòa cùng lắm cũng chỉ 1/5 số kẻ bị bắt. Không một ai trong số chúng dám la lên là tôi mang theo cả trăm triệu đồng, sao cáo trạng lại ghi tôi chỉ thua vài ba triệu hay dăm triệu. Vì sao, bạn tự hiểu.

Đánh bạc trên trên mạng máy tính càng khó bắt, khó xử lý hơn, tiền chi cho cờ bạc càng kinh khủng hơn.Nếu ai đó còn hoài nghi thì cứ đọc hồ sơ vụ án mà tòa đang xử. Chỉ trong 8 tháng hoạt động, mạng cờ bạc của Nguyễn Văn Dương, Phan Sào Nam đã thu hút được 43 triệu tài khoản con bạc, thu lãi bất chính 9.800 tỷ, trả lương và nộp thuế hơn 3.700 tỷ, chia nhau 4.700 tỷ…

Hợp pháp hóa không được, bắt cũng không dễ xử lý, hẳn là một người tự phụ quyền lực như ông Vĩnh không thể ngồi khoanh tay xem bọn oắt con thu tiền ngàn tỷ mà mình chẳng được gì cũng chẳng thể làm gì. Vậy là, thay vì lập chuyên án triệt phá cờ bạc, thu tiền về cho nhà nước, ông ra tay tế độ, biến chúng thành kẻ phục vụ mình. Công ty cờ bạc của Dương, Nam được Nguyễn Thanh Hóa, theo chỉ đạo của ông Vĩnh, biến thành “Công ty bình phong” của C50, tha hồ cho chúng máy móc túi quần chúng máu đỏ đen, mang tiền về đây cung phụng. Riêng tiền rượu cho các sếp tiếp khách đã lên đến cả chục tỷ thì đó không còn là chuyện đơn giản thấy lợi mờ mắt, sa ngã và chết vì “đạn bọc đường” như dư luận ngây thơ bàn tán và lên án nữa. Với Phan Văn Vĩnh, Nguyễn Thanh Hóa, đó là canh bạc quyền lực siêu khủng mà họ cố ý đánh đổi bằng cả sự nghiệp, hoàn toàn không thể coi là một cú sẩy chân dính bùn. Gọi thế e rẻ rúng tư cách và năng lực của những kẻ phạm tội quá.

Chỉ với một vụ này thôi cũng đủ chỉ ra rằng: cấm tiệt cờ bạc, nhất là trên mạng, là điều không thể. Bắt bạc chỉ là biện pháp bắt cóc bỏ dĩa. Đã đến lúc, vấn đề nghiên cứu lộ trình hợp pháp hóa thị trường cờ bạc, cá cược, đặt dưới sự quản lý chặt chẽ của luật pháp cần được đặt ra. Không những nhà nước sẽ có thêm được một nguồn thuế không nhỏ, điều này còn giúp giảm thiểu cho xã hội không ít tệ nạn, tội lỗi và tội ác.

Trình độ lãnh đạo

https://baotiengdan.com/2018/11/15/trinh-do-lanh-dao/

Trình độ lãnh đạo

FB Võ Xuân Sơn

14-11-2018

Đọc được một thông tin về trung tướng Phan Văn Vĩnh, người đang bị xét xử tại Phú Thọ, vì đã bảo kê cờ bạc, mà hơi bị bất ngờ.

Đó là thông tin, được cho là của nhà báo Nguyễn Như Phong, bạn của trung tướng Phan Văn Vĩnh. Thông tin đó cho rằng: “Phan Văn Vĩnh, điện thoại di động không biết nhắn tin, hoặc cùng lắm là nhắn được dòng chữ OK, không biết sử dụng máy tính…”.

Chúng ta nói đến 4.0, lúc nào cũng 4.0. Vậy mà một trung tướng, Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát phòng chống tội phạm, Bộ Công an, trong đó có Cục phòng chống tội phạm công nghệ cao, lại không biết nhắn tin điện thoại di động, không biết dùng máy tính. Một người như vậy, lại được phân công làm Trưởng ban chuyên án vụ Bầu Kiên, một vụ án đòi hỏi chất xám nhiều hơn là cơ bắp và khả năng thí mạng cùi.

Thảo nào mà có nhiều án oan sai. Thảo nào mà có những vụ án điều tra đi điều tra lại hoài như vụ Vườn Điều, mà vẫn chẳng ra đâu vào đâu. Thảo nào mà BS Lương cứ nhất định bị bắt phải có tội. Thảo nào mà anh tài xế container bị bắt đi tù khi tông vào sau chiếc xe do một tài xế say rượu, chở quá số người qui định, chạy lùi trên cao tốc…

Rất nhiều vụ án, mà các bị can là các cán bộ cao cấp có, thấp hơn một chút có, cao cao lắm cũng có, khi ra tòa thì bảo trình độ kém, năng lực hạn chế. Mẹ chúng nó chứ. Trình độ kém, năng lực hạn chế thì sao lại nhận chức? Nhận gì, chúng nó còn chạy chức nữa đấy, đâm sau lưng, chém lén nhau để giành chức.

Giành chức rồi thì ra sức mà bắt tay với tội phạm, để ăn tiền bảo kê. Với dân thì tróc nã, cài bẫy để cướp tài sản. Và đến khi ra tòa, thì trình độ kém, năng lực hạn chế… Rồi có công nữa chứ. Công gì? Công cho ai phản ứng lại chúng xài kéo, thun quần, dây giầy… hay công gì nữa?

Trên một góc độ khác. Làm sao mà một chế độ, muốn bảo toàn quyền lực lãnh đạo của mình, lại có thể để cho một kẻ không biết nhắn tin điện thoại, không biết dùng máy tính, làm tổng cục trưởng một tổng cục có rất nhiều thứ liên quan đến công nghệ cao? Làm sao mà một thể chế, lại có thể cho phép việc đưa những người trình độ kém, năng lực hạn chế ra làm lãnh đạo?

Đất nước này sẽ đi về đâu?

Việt Nam đang chết đuối ở Biển Đông

https://baotiengdan.com/2018/11/15/viet-nam-dang-chet-duoi-o-bien-dong/

Việt Nam đang chết đuối ở Biển Đông

Phạm Trần

15-11-2018

Giữa lúc Tổng Bí thư đảng, Chủ tịch nước Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng vùi đầu vào canh bạc chọn người cho Đại hội đảng khóa XIII diễn ra vào tháng 01/2021 thì Trung Hoa đã xiết gọng kìm để chuẩn bị bóp cổ Việt Nam ở Biển Đông.

Hiện tượng này diễn ra ở Việt Nam và Thủ đô Hoa Thịnh Đốn, Hoa Kỳ trong vòng 6 tháng nửa sau của năm 2018.

Tại phiên họp lần thứ 11 của Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam – Trung Quốc diễn ra ngày 16/9 (2018) tại Thành phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn), Trưởng đoàn Trung Cộng, Ủy viên Quốc vụ, Bộ trưởng Ngoại giao Vương Nghị đã nói với Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao CSVN Pham Bình Minh rằng: “Cách tốt nhất để kiểm soát bất đồng trên biển (giữa Việt Nam và Trung Quốc) là hợp tác khai thác trên biển.”

Lập trường của Vương Nghị không mới mà đã thường xuyên được phía Trung Hoa lập lại với Việt Nam mỗi khi có cuộc họp chính thức song phương, hay bên lề các cuộc gặp gỡ Quốc tế. Sở dĩ Bắc Kinh muốn nhắc lại là muốn cho phía Việt Nam hiểu rằng Hà Nội không có lựa chọn nào khác, khi xét về tương quan lực lượng quân sự và sức mạnh kinh tế-chính trị của Trung Hoa đối với Việt Nam.

NỢ TRUNG HOA BAO NHIÊU?

Nếu đem yêu cầu Việt Nam “cùng hợp tác để khai thác trên biển” của Vương Nghị áp dụng vào món nợ khổng lồ của Việt Nam đối với Bắc Kinh thì “qủa đấm” của họ Vương dành cho ông Phạm Bình Minh không nhẹ chút nào.

Món nợ tài chính này đã được chuyên gia Vũ Quang Việt, nguyên Vụ trưởng Vụ Tài khoản Quốc gia thuộc Cục Thống kê Liên Hợp Quốc, tiết lộ trong bài viết trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn, ngày 03/09/2018. Bài này sau đó được đăng lại trên nhiều báo ở Việt Nam.

Ông Việt viết: “Theo một nghiên cứu chi tiết về các khoản nợ của các nước trong đó có Việt Nam với Trung Quốc, thì tổng số nợ của Việt Nam với Trung Quốc (bao gồm cả Chính phủ, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư) có thể đã lên tới 4 tỉ đô la Mỹ, chỉ có thể tính đến hết năm 2013 . Số liệu trên cũng chưa thể tính trừ đi khoản nợ gốc đã trả.”

Tuy thế”, ông Việt viết tiếp, “nếu dựa vào số liệu nợ Trung Quốc là 4,1 tỉ đô la năm 2013, tính ra bằng 6,3% tổng số nợ nước ngoài của Việt Nam (kể cả nợ của doanh nghiệp) là 63,5 tỉ đô la vào năm 2013. Dựa vào cùng tỷ lệ trên, và với số nợ nước ngoài hiện nay ước là 100 tỉ đô la Mỹ, có thể ước nợ Trung Quốc vào năm 2018 đã trên 6 tỉ đô la. Ngân hàng Thế giới tính số nợ nước ngoài của Việt Nam là 86,9 tỉ đô la vào cuối năm 2016.”

Vẫn theo tính toán của ông Việt thì: “Số nợ Trung Quốc thật sự có thể lớn hơn số trên, vì từ sau năm 2010, Bộ Tài chính chỉ theo dõi và công bố nợ công tức là nợ của Chính phủ và nợ của doanh nghiệp do Nhà nước bảo lãnh, theo định nghĩa của Việt Nam. Từ 2011, bộ đã chấm dứt công bố nợ nước ngoài bao gồm cả nợ của doanh nghiệp tư nhân. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có bản hướng dẫn về nội dung quản lý nhà nước đối với vay và trả nợ của doanh nghiệp (03/VBHN-NHNN, 12-7-2017). Như thế về nguyên tắc, Ngân hàng Nhà nước nắm được thông tin nhưng không công bố.”

Với đống nợ to bằng cái đình làng như thế thì liệu Việt Nam có khả năng tránh được áp lực đòi cùng khai thác ở Biển Đông của chủ nợ không?

TRẢ LỜI HAY KHÔNG?

Đó là lý do tại sao phía Việt Nam, qua lời người phát ngôn Lê Thị Thu Hằng của Bộ Ngoại giao,đã trả lời giữa vời khi được báo chí chất vấn về yêu cầu của Vương Nghị.

Bà Hằng nói chiều ngày 20/09/2018:“Việt Nam hoan nghênh hợp tác giữa các quốc gia, trong đó có hợp tác trên biển. Trên thực tế, Việt Nam đã có hợp tác song phương và đa phương về biển với các quốc gia, trong đó có Trung Quốc với nhiều hình thức khác nhau như nghiên cứu khoa học, bảo vệ môi trường, phòng chống tội phạm trên biển, hoạt động kinh tế…
Chủ trương của Việt Nam là hợp tác trên biển phải theo đúng các quy định và chế định của Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, phù hợp với quyền, lợi ích của Việt Nam và tôn trọng lợi ích của các bên liên quan khác
.” (Bản tin chính thức của Bộ Ngoại giao).

Câu trả lời của Bà Hằng không bác thẳng tay yêu cầu của Vương Nghị mà ngụ ý sự hợp tác, nếu có phải được thảo luận dựa trên Luật Biển năm 1982 của Liên Hiệp Quốc, đòi hỏi các bên quan hệ phải tôn trọng quyền lợi và lập trường về biển đảo của đôi bên.

Nói cách khác, phía Việt Nam đã ỡm ờ giữa “có” và “không” để mua thời gian với cáo già Trung Quốc.

Cũng nên biết lập trường “gác tranh chấp để cùng khai thác” của Trung Hoa đã phát ra lần đầu tiên từ cửa miệng Lãnh tụ Đặng Tiểu Bình năm 1979. Từ đó đến nay, các thế hệ lãnh đạo Trung Hoa kế tiếp vẫn giữ nguyên như thế.

Nhưng nếu mắc bẫy Trung Hoa là chẳng khác nào bán thóc giống đi mà ăn. Bởi vì trước hết, Trung Hoa không có chủ quyền thực tế ở Biển Đông mà chỉ tự nhận các bãi đá, đảo và vùng nước chung quanh những vị trí này là của Trung Hoa từ ngàn xưa.

Câu nói ngang ngược của Tổng Bí thư đảng, Chủ tịch nhà nước Trung Hoa Tập Cận Bình tại Tân Gia Ba (Singapore) ngày 07/11/2015 là bằng chứng tham vọng của Bắc Kinh.

Họ Tập nói tại Đại học Quốc gia Singapore:“Xin hãy để tôi nói rõ: những hòn đảo trên Biển Đông là thuộc lãnh thổ Trung Quốc kể từ thời xa xưa . Chính quyền Trung Quốc có nhiệm vụ phải bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và lợi ích chính đáng của Trung Quốc”.

Ông Tập rêu rao rằng “những hòn đảo của Trung Quốc” trên Biển Đông đang bị các quốc gia láng giềng chiếm đóng. Ông nói: “Những hoạt động xây dựng của Bắc Kinh trên Biển Đông là nhằm mục đích hòa bình.”

SUY NHƯỢC-PHỤC TÙNG

Lập trường chủ quyền ở Biển Đông của Trung Hoa đã bước vào thời kỳ căng thẳng và nguy hiểm nhất từ 30 năm qua, sau khi quân Trung Hoa tấn công chiếm 7 bãi đá của Việt Nam ở Trường Sa từ năm 1988. Sau đó bồi đắp thành đảo lớn kiên cố và quân sự hóa gồm Vành Khăn, Tư Nghĩa, Subi, Gaven, Chữ Thập, Gạc Ma và Châu Viên.

Trung Hoa đã đồn trú binh lính, xây bến cảng, sân bay và lập tuyến phòng thủ Radar và xây một số Đài khí tượng trên 7 vị trí. Vì vậy, Việt Nam sẽ là nạn nhân đầu tiên, nếu xẩy ra chiến tranh, vì sức mạnh quân sự không cân bằng mặc dù Việt Nam đang kiểm soát tới 21 vị trí ở Trường Sa gồm:

Cụm Song Tử: Đảo Song Tử Tây, Đá Nam
Cụm Nam Yết: Đảo Nam Yết, Đảo Sơn Ca, Đá Lớn, Đá Núi Thị
Cụm Sinh Tồn: Đảo Sinh Tồn, Đảo Sinh Tồn Đông, Đá Cô Lin, Đá Len Đao
Cụm Trường Sa: Đảo Trường Sa, Đá Đông,Đá Lát, Đá Núi Le, Đảo Phan Vinh, Đá Tây, Đá Tiên Nữ,Đá Tốc Tan, Đảo Trường Sa Đông
Cụm Thám Hiểm: Đảo An Bang, Đá/Bãi Thuyền Chài

Một bằng chứng suy nhược của phía Việt Nam Cộng sản là quân đội đã không dám nghênh chiến với lính và tầu Trung Cộng mỗi khi chúng tấn công, bắn phá vá cướp tài sản của ngư dân Việt Nam hành nghề ở vùng biển Hoàng Sa (bị Trung Cộng chiếm từ tay Quân lực Việt Nam Cộng hòa tháng 1/1974) và ở Trường Sa.

Ô nhục hơn, phần lớn báo đài nhà nước CSVN không dám chỉ đích danh lính và tầu Trung Cộng đã hành động sát nhân vô nhân đạo chống ngư phủ Việt Nam mà chỉ dám gọi chúng là “tầu lạ” hay “tàu nước ngoài”.

Tại Bộ Ngoại giao Việt Nam, mỗi khi Trung Cộng có động tác xác nhận chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa thì người phát ngôn chỉ biết nói đi nói lại đến nhàm tai rằng: “Việt Nam có đầy đủ cơ sở pháp lý và bằng chứng lịch sử khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa phù hợp với luật pháp quốc tế.”

DƯƠNG KHIẾT TRÌ-BIỂN ĐÔNG

Khẳng định của Việt Nam, một lần nữa đã bị Dương Khiết Trì (Yang Jiechi), Chánh văn phòng Uỷ ban công tác ngoại sự Trung ương đảng Cộng sản Trung Quốc gạt đi trong cuộc họp báo ở Bộ Ngoại giao Mỹ ngày 09/11/2018.

Họ Dương và Bộ trưởng Quốc phòng Trung Hoa, Ngụy Phượng Hòa (Wei Fenghe) đã đến Hoa Thịnh Đốn để họp thường niên với Ngoại trưởng Michael Pompeo và Bộ trưởng Quốc phòng Jame Mattis.

Trả lời câu hỏi về hoạt động của Trung Hoa tại Biển Dông, Dương Khiết Trì nói: “China reaffirmed its principled position on this issue and pointed out that China has indisputable sovereignty over islands in Nansha and its adjacent waters. On its own territory, China is undertaking some constructions to build civilian facilities and necessary defense facilities. That is the right of preservations and self-defense that international law has provided for sovereign state that has nothing to do with militarization.” (Tài liệu Bộ Ngoại giao Mỹ)

Tạm dịch: “Trung Quốc đã khẳng định lập trường chính thức về vấn đề này, và muốn nói rõ rằng Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi trên các đảo ở Trường Sa và vùng nước chung quanh. Trên phần lãnh thổ của mình, Trung Quốc đã thực hiện công tác xây dựng một số cơ sở dân sự và quân sự quốc phòng. Đây hoàn toàn phù hợp với quyền bảo vệ và tự vệ theo đúng luật pháp quốc tế chứ không dính dáng gì đền điều gọi là quân sự hóa.”

Lời tuyên bố mới nhất về Biển Đông của Dương Khiết Trì như gáo nước lạnh tạt vào mặt lãnh đạo Cộng sản Việt Nam, vậy mà đảng và nhà nước, kể cả báo đài sống nhờ tiền dân và Ban Tuyên giáo chuyên nghề tuyên truyền đã không dám mở mồm bình phẩm hay phản ứng lấy nửa lời.

Là người lãnh đạo cao nhất nước, Tổng Bí thư đảng, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng có còn là người Việt Nam hay ông chưa biết Việt Nam đang chết đuối ở Biển Đông?

Tại sao một cuộc chiến Mỹ-Trung có thể leo thang ngoài tầm kiểm soát?

http://nghiencuubiendong.vn/quan-h-quc-t/7104-tai-sao-mot-cuoc-chien-tranh-my-trung-co-the-leo-thang-ngoai-tam-kiem-soat

Tại sao một cuộc chiến Mỹ-Trung có thể leo thang ngoài tầm kiểm soát?

Một cuộc chiến tranh giữa hai nước vẫn ít có khả năng xảy ra, nhưng triển vọng đối đầu quân sự – ví dụ như xuất phát từ một chiến dịch quân sự của Trung Quốc nhằm vào Đài Loan – không còn là không thể như trước kia. Và xác suất một cuộc đối đầu như vậy leo thang thành hạt nhân đã cao hơn những gì mà hầu hết các nhà phân tích và hoạch định chính sách vẫn hình dung.

08_talmadge_copy.jpg

Những năm gần đây, sức mạnh của Trung Quốc tăng lên bao nhiêu thì nguy cơ chiến tranh với Mỹ cũng tăng lên bấy nhiêu. Dưới thời Chủ tịch Tập Cận Bình, Trung Quốc đã tăng cường áp lực chính trị và kinh tế đối với Đài Loan và xây dựng cơ sở quân sự trên các rạn san hô ở Biển Đông, làm gia tăng lo sợ của Washington về việc chủ nghĩa bành trướng của Trung Quốc sẽ đe dọa các đồng minh của Mỹ và ảnh hưởng đến khu vực. Các tàu khu trục của Mỹ đã đi qua Eo biển Đài Loan, trước sự phản đối lớn tiếng từ phía Bắc Kinh. Các nhà lập pháp Mỹ đã lên tiếng đặt câu hỏi về việc liệu họ có nên cử thêm một chiếc tàu sân bay đi qua eo biển này nữa hay không. Các máy bay tiêm kích phản lực của Trung Quốc đã chặn máy bay Mỹ trên không phận phía trên Biển Đông. Trong khi đó Tổng thống Mỹ Donald Trump đã đẩy các tranh chấp kinh tế âm ỉ lâu nay lên mức sôi sục.

Một cuộc chiến tranh giữa hai nước vẫn ít có khả năng xảy ra, nhưng triển vọng đối đầu quân sự – ví dụ như xuất phát từ một chiến dịch quân sự của Trung Quốc nhằm vào Đài Loan – không còn là không thể như trước kia. Và xác suất một cuộc đối đầu như vậy leo thang thành hạt nhân đã cao hơn những gì mà hầu hết các nhà phân tích và hoạch định chính sách vẫn hình dung.

Các thành viên cộng đồng nghiên cứu chiến lược của Trung Quốc có xu hướng phủ nhận những quan ngại như trên. Tương tự, những nghiên cứu của Mỹ về một cuộc chiến tiềm tàng với Trung Quốc thường loại bỏ hoàn toàn vũ khí hạt nhân khỏi kết quả phân tích, coi vấn đề này là không liên quan đến chiều hướng của một cuộc xung đột. Khi được hỏi về vấn đề này vào năm 2015, Dennis Blair, cựu tư lệnh lực lượng Mỹ tại Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, phán đoán khả năng xảy ra khủng hoảng hạt nhân Mỹ-Trung là “zero”.

Sự bảo đảm này thật sai lầm. Nếu được triển khai chống lại Trung Quốc, phong cách chiến tranh thông thường được ưa thích của Lầu Năm Góc sẽ là một công thức tiềm năng cho leo thang hạt nhân. Từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, cách tiếp cận đặc trưng của Mỹ về chiến tranh vẫn luôn đơn giản: thọc sâu vào lãnh thổ của đối phương để nhanh chóng đập tan các cơ sở quân sự then chốt của kẻ thù bằng tổn thất tối thiểu. Nhưng Lầu Năm Góc phát triển công thức này trong những cuộc chiến nhằm vào Afghanistan, Iraq, Libya, và Serbia, không nước nào trong số này có vũ khí hạt nhân.

Trung Quốc, ngược lại, không chỉ có vũ khí hạt nhân, nước này còn đưa những vũ khí này vào các lực lượng quân sự thông thường của mình, khiến rất khó có thể tấn công cái này mà tránh được cái kia. Điều đó có nghĩa là một chiến dịch quân sự lớn của Mỹ nhằm vào các lực lượng truyền thống của Trung Quốc nhiều khả năng cũng sẽ đe dọa kho vũ khí hạt nhân của Trung Quốc. Khi đối mặt với một mối đe dọa như vậy, các nhà lãnh đạo Trung Quốc có thể quyết định sử dụng vũ khí hạt nhân khi còn có thể.

Khi các nhà lãnh đạo Mỹ và Trung Quốc tìm cách xoay xở với một mối quan hệ chồng chất sự ngờ vực lẫn nhau, họ phải nhìn thẳng vào thực tế rằng một cuộc chiến tranh thông thường có thể trượt sâu thành một cuộc đối đầu hạt nhân. Mặc dù nguy cơ này không phải là cao xét ở góc độ tuyệt đối, nhưng hậu quả của nó đối với khu vực và thế giới sẽ là khủng khiếp. Chừng nào Mỹ và Trung Quốc còn tiếp tục theo đuổi những chiến lược lớn như hiện nay của mình, thì nguy cơ này vẫn tiếp tục hiện hữu. Điều đó có nghĩa là lãnh đạo của cả hai bên cần phải từ bỏ ảo tưởng rằng họ có thể dễ dàng phát động một cuộc chiến tranh hạn chế. Thay vào đó, họ nên tập trung vào việc kiểm soát hoặc giải quyết những căng thẳng chính trị, kinh tế và quân sự có thể dẫn đến xung đột ngay từ đầu.

Một loại đe dọa kiểu mới

Có một số lý do để lạc quan. Thứ nhất, lâu nay Trung Quốc vẫn kiên định với học thuyết hạt nhân không tấn công. Sau vụ thử hạt nhân đầu tiên của mình vào năm 1962, Trung Quốc cơ bản tránh chạy đua vũ trang, chỉ phát triển một kho vũ khí hạt nhân nhỏ và đơn giản hơn rất nhiều so với tiềm lực của nước này cho phép. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc luôn kiên định cho rằng vũ khí hạt nhân chỉ có ích trong việc ngăn ngừa đe dọa và tấn công hạt nhân. Ở góc độ lịch sử, mục đích hạn hẹp như vậy chỉ cần một vài vũ khí hạt nhân là đủ bảo đảm khả năng đáp trả của Trung Quốc trong trường hợp bị tấn công. Đến tận ngày nay, Trung Quốc vẫn duy trì cam kết “không sử dụng trước”, hứa hẹn rằng nước này sẽ không bao giờ sử dụng vũ khí hạt nhân trước.

Triển vọng một cuộc xung đột hạt nhân cũng có thể tưởng chừng như chỉ là tàn tích của Chiến tranh Lạnh. Hồi đó, Mỹ và các đồng minh sống trong nỗi lo sợ rằng một cuộc tấn công của khối Hiệp ước Vacsava sẽ nhanh chóng ngập tràn châu Âu. NATO luôn sẵn sàng sử dụng vũ khí hạt nhân trước để ngăn chặn một cuộc tấn công như vậy. Cả Washington lẫn Moskva đều thường trực lo lắng rằng lực lượng hạt nhân của mình sẽ bị quét sạch trong một cuộc tấn công hạt nhân bất ngờ từ phía đối phương. Mối lo sợ chung này làm gia tăng nguy cơ một siêu cường có thể vội vàng phóng vũ khí vì niềm tin sai lầm rằng mình đang bị tấn công. Ban đầu, mối nguy hiểm của những cuộc tấn công không được phê chuẩn cũng luôn hiện hữu. Trong những năm 1950, các quy trình an toàn lỏng lẻo đối với vũ khí hạt nhân của Mỹ trên lãnh thổ NATO, cũng như mức độ giám sát ở mức tối thiểu của dân sự đối với các tư lệnh quân sự Mỹ, đã đặt ra những nguy cơ nghiêm trọng về việc leo thang hạt nhân có thể xảy ra mà không có mệnh lệnh rõ ràng từ Tổng thống Mỹ.

Tin tốt là những lo lắng thời Chiến tranh Lạnh không liên quan nhiều đến mối quan hệ hiện tại giữa Mỹ và Trung Quốc. Không nước nào có thể nhanh chóng tràn vào lãnh thổ của nhau trong một cuộc chiến tranh thông thường. Cả hai đều không có vẻ gì lo ngại về một cú sét hạt nhân từ trên trời rơi xuống. Và sự kiểm soát chính trị dân sự đối với vũ khí hạt nhân ở cả hai nước đều tương đối mạnh. Điều còn lại, về lý thuyết, là lôgích dễ chịu về sự ngăn ngừa lẫn nhau: trong một cuộc chiến giữa hai cường quốc hạt nhân, cả hai bên đều sẽ không phát động đòn tấn công hạt nhân vì sợ đối phương sẽ đáp trả tương xứng.

Tin xấu là vẫn còn một yếu tố nữa tồn tại: Một cuộc chiến thông thường đe dọa kho vũ khí hạt nhân của Trung Quốc. Các lực lượng thông thường có thể đe dọa lực lượng hạt nhân theo những cách tạo ra áp lực khiến xung đột leo thang – nhất là khi các lực lượng thông thường tinh nhuệ hơn của Mỹ đối mặt với những kho vũ khí hạt nhân mong manh và tương đối nhỏ, như của Trung Quốc. Nếu các chiến dịch của Mỹ đe dọa hoặc gây tổn hại đến lực lượng hạt nhân của Trung Quốc, các nhà lãnh đạo Trung Quốc có thể sẽ nghĩ rằng Washington còn có những ý đồ khác ngoài mục tiêu giành thắng lợi trong cuộc chiến thông thường – rằng nước này có khi đang tìm cách vô hiệu hóa hoặc phá hủy thẳng thừng kho vũ khí hạt nhân của Trung Quốc, có lẽ để mở đầu cho việc thay đổi chế độ. Giữa màn sương chiến tranh, Bắc Kinh có thể miễn cưỡng kết luận rằng một sự leo thang hạt nhân hạn chế – một đòn tấn công phủ đầu đủ nhỏ để tránh sự đáp trả tổng lực từ phía Mỹ – là lựa chọn khả thi để tự vệ.

Điểm nóng đáng lo ngại nhất cho một cuộc chiến Mỹ-Trung là Đài Loan. Mục tiêu lâu dài của Bắc Kinh về việc thống nhất hòn đảo này với Trung Hoa Đại lục rõ ràng là mâu thuẫn với tham vọng lâu nay của Washington về việc duy trì nguyên trạng ở eo biển. Không khó hình dung việc mâu thuẫn này có thể dẫn tới chiến tranh. Ví dụ, Trung Quốc có thể quyết định rằng cánh cửa mở ra cơ hội về quân sự hoặc chính trị để giành lại quyền kiểm soát hòn đảo này đang đóng lại và phát động một cuộc tấn công, sử dụng lực lượng không quân và hải quân để phong tỏa các cảng của Đài Loan hoặc ném bom hòn đảo này. Mặc dù luật của Mỹ không đòi hỏi Washington phải can thiệp trong một kịch bản như vậy, nhưng Đạo luật Quan hệ với Đài Loan quy định rằng Mỹ sẽ “xem bất kỳ nỗ lực nào nhằm quyết định tương lai của Đài Loan mà không phải bằng những biện pháp hòa bình, bao gồm việc tẩy chay hoặc cấm vận, là một sự đe dọa tới hòa bình và an ninh của khu vực Tây Thái Bình Dương và là mối quan ngại nghiêm trọng đối với Mỹ.” Trong trường hợp Mỹ can thiệp nhân danh Đài Loan, siêu cường duy nhất của thế giới và đối thủ cạnh tranh đang lên sẽ bị cuốn vào cuộc chiến nước lớn đầu tiên của thế kỷ 21.

Trong quá trình diễn ra một cuộc chiến như vậy, các hoạt động quân sự thông thường của Mỹ nhiều khả năng sẽ đe dọa, vô hiệu hóa, hoặc phá hủy hoàn toàn một số năng lực hạt nhân của Trung Quốc – bất kể làm như vậy có phải là mục tiêu công khai của Mỹ hay không. Trong thực tế, nếu Mỹ tiến hành cách thức chiến tranh mà nước này đã thực hiện hơn 30 năm qua thì kết cục nêu trên là gần như chắc chắn.

Hãy xem xét trường hợp tác chiến tàu ngầm. Trung Quốc có thể sử dụng các tàu ngầm tấn công trang bị vũ khí thông thường của mình để phong tỏa cảng Đài Loan hoặc ném bom hòn đảo, hoặc để tấn công các lực lượng của Mỹ và đồng minh trong khu vực. Nếu điều đó xảy ra, hải quân Mỹ sẽ gần như chắc chắn tiến hành một chiến dịch chống tàu ngầm, qua đó nhiều khả năng sẽ đe dọa đến 4 tàu ngầm hạt nhân trang bị tên lửa đạn đạo của hải quân Trung Quốc. Các tàu ngầm vũ khí thông thường và vũ khí hạt nhân của Trung Quốc cùng chia sẻ một hệ thống liên lạc trên bờ; một cuộc tấn công của Mỹ vào các cơ sở truyền dẫn này do vậy sẽ không chỉ làm gián đoạn hoạt động của lực lượng tàu ngầm tấn công Trung Quốc mà còn chia cắt các tàu ngầm hạt nhân này khỏi sự liên lạc với Bắc Kinh, khiến cho các nhà lãnh đạo Trung Quốc không chắc chắn về số phận lực lượng hạt nhân hải quân của mình. Bên cạnh đó, các tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo hạt nhân lệ thuộc vào sự bảo vệ của các tàu ngầm tấn công, cũng giống như chiếc máy bay ném bom cồng kềnh phụ thuộc vào những chiếc máy bay tiêm kích. Nếu Mỹ đánh chìm những tàu ngầm tấn công của Trung Quốc, thì cũng đồng nghĩa với việc đánh chìm chính lực lượng bảo vệ các tàu ngầm tên lửa đạn đạo của Trung Quốc, khiến cho lực lượng này trở nên dễ bị tổn thương.

Thậm chí nguy hiểm hơn thế, các lực lượng Mỹ săn lùng các tàu ngầm tấn công của Trung Quốc cũng có thể vô tình đánh chìm một tàu ngầm vũ khí hạt nhân do nhầm lẫn. Xét cho cùng, ít nhất thì cũng có một vài tàu ngầm tấn công của Trung Quốc có thể đang hộ tống tàu ngầm tên lửa đạn đạo hạt nhân, đặc biệt là trong thời chiến, khi Trung Quốc có thể tung hết các tàu ngầm hạt nhân này ra khỏi cảng và cố đưa chúng đến sát tầm vươn tới lục địa Mỹ. Vì từ trước đến nay việc xác định chính xác mục tiêu vẫn luôn là một trong những thách thức khó khăn nhất của tác chiến tàu ngầm, một tàu ngầm Mỹ có thể rơi đúng vào tầm bắn của một chiếc tàu ngầm Trung Quốc mà không chắc nó là loại nào, nhất là trong một môi trường đông đúc, ồn ào như Eo biển Đài Loan. Những lời nói sáo rỗng về việc phải thận trọng lúc bình thường thì rất dễ. Trong thời chiến, khi các tàu ngầm tấn công Trung Quốc có thể đã tung ra đòn tấn công chết người, thủy thủ đoàn phía Mỹ có thể sẽ quyết định bắn trước và hỏi sau.

Ngoài yếu tố về cảm giác dễ bị tổn thương từ phía Trung Quốc, quy mô nhỏ của lực lượng tàu ngầm trang bị vũ khí hạt nhân của nước này cũng đồng nghĩa rằng chỉ cần hai vụ việc như trên cũng đủ hủy diệt một nửa năng lực răn đe từ biển của nước này. Trong khi đó, bất kỳ chiếc tàu ngầm trang bị vũ khí hạt nhân nào của Trung Quốc thoát khỏi số phận trên thì nhiều khả năng cũng bị cô lập khỏi đường dây liên lạc với các chỉ huy trên bờ, trong tình trạng không có lực lượng hộ tống, và không thể quay trở về các căn cứ đã bị phá hủy. Nếu điều đó xảy ra, Trung Quốc về cơ bản là không còn năng lực răn đe hạt nhân hải quân.

Tình trạng trên bờ cũng tương tự, nơi mà bất kỳ chiến dịch quân sự nào của Mỹ cũng sẽ đụng tới vào lực lượng tên lửa đạn đạo thông thường trên bộ ngày càng lớn của Trung Quốc. Phần lớn lực lượng này đặt trong tầm bắn đến Đài Loan, sẵn sàng phóng tên lửa đạn đạo vào hòn đảo hoặc bất kỳ đồng minh nào đến ứng cứu. Một lần nữa, thắng lợi của quân Mỹ lại phụ thuộc vào việc khuất phục được lực lượng tên lửa đạn đạo thông thường này. Và một lần nữa, sẽ gần như là không thể nào làm như vậy mà không động chạm gì đến lực lượng tên lửa đạn đạo hạt nhân của Trung Quốc. Các tên lửa đạn đạo hạt nhân và thông thường của Trung Quốc cũng thường gắn chung căn cứ chỉ huy, nghĩa là nhiều khả năng chúng sẽ chia sẻ các hệ thống cung cấp và vận chuyển, tuyến tuần tra, và cơ sở hạ tầng hỗ trợ khác. Cũng có khả năng là chúng chia sẻ một số mạng lưới chỉ huy và kiểm soát, hoặc là Mỹ sẽ không thể phân biệt được giữa các mạng lưới hạt nhân và thông thường ngay cả khi chúng tách biệt nhau về mặt thực thể.

Đã thế một số tên lửa đạn đạo của Trung Quốc còn có thể mang cả đầu đạn thông thường hoặc hạt nhân, và cả hai phiên bản này đều hầu như không thể phân biệt nổi đối với hệ thống do thám trên không của Mỹ. Trong một cuộc chiến, việc nhắm mục tiêu vào các phiên bản thông thường cũng có khả năng đồng nghĩa với việc phá hủy một số loại hạt nhân trong quá trình đó. Ngoài ra, đưa máy bay có người lái vào tấn công các bãi phóng tên lửa và căn cứ của Trung Quốc sẽ đòi hỏi ít nhất là sự kiểm soát một phần không phận của Trung Quốc, điều đó cũng sẽ lại đòi hỏi phải làm suy yếu hệ thống phòng không của nước này. Nhưng làm suy yếu mạng lưới phòng không bờ biển của Trung Quốc nhằm phát động một cuộc chiến tranh thông thường cũng sẽ lại khiến cho phần lớn lực lượng hạt nhân của Trung Quốc không còn được bảo vệ.

Một khi Trung Quốc bị tấn công, các nhà lãnh đạo nước này có thể sẽ lo sợ rằng ngay cả những tên lửa đạn đạo liên lục địa được triển khai ở sâu trong lục địa cũng dễ bị tổn thương. Trong nhiều năm, giới quan sát đã coi các nỗ lực quân sự thất bại của Mỹ nhằm xác định và phá hủy những tên lửa Scud của Iraq trong Chiến tranh Vùng Vịnh 1990-1991 như bằng chứng cho thấy các tên lửa di động là hầu như miễn nhiễm trước nguy cơ bị tấn công. Do đó, theo lối tư duy này, Trung Quốc vẫn có thể duy trì một năng lực răn đe hạt nhân bất kể thiệt hại do Mỹ gây ra đối với các khu vực bờ biển của Trung Quốc. Nhưng các nghiên cứu gần đây cho thấy không phải như vậy. Các tên lửa đạn đạo liên lục địa của Trung Quốc lớn và kém cơ động hơn tên lửa Scud của Iraq trước đây, và chúng rất khó để di chuyển mà không bị phát hiện. Nhiều khả năng Mỹ cũng đã theo dõi chúng sát sao hơn rất nhiều trong thời bình. Và hệ quả là Trung Quốc ít có khả năng sẽ xem việc săn lùng thất bại đối với tên lửa Scud ở Iraq gần 30 năm trước như sự bảo đảm rằng kho vũ khí hạt nhân còn lại của nước này bây giờ cũng sẽ an toàn, đặc biệt là trong một cuộc chiến tranh thông thường cường độ cao đang diễn ra.

Sự chỉ trích gay gắt của Trung Quốc đối với các hệ thống phòng thủ tên lửa khu vực của Mỹ được thiết kế để ngăn chặn một cuộc tấn công tiềm tàng của Triều Tiên cũng đã phản ánh những lo sợ thâm căn cố đế này. Lo lắng của Bắc Kinh nằm ở chỗ hệ thống này có thể giúp Washington chặn được khá nhiều tên lửa Trung Quốc có thể phóng nếu Mỹ tấn công kho vũ khí hạt nhân của Trung Quốc. Loại chiến dịch quân sự như vậy có vẻ như khả thi hơn rất nhiều trong mắt Bắc Kinh nếu một cuộc chiến thông thường đã bắt đầu phá hủy nghiêm trọng những bộ phận khác trong lực lượng răn đe hạt nhân của Trung Quốc. Khó khăn thêm nữa là nhận thức theo thời gian thực của Trung Quốc về tình trạng các lực lượng của mình có thể sẽ bị hạn chế, vì làm “mù mắt” đối phương là một phần tiêu chuẩn trong điều lệnh tác chiến của quân đội Mỹ.

Nói một cách đơn giản, chiến lược ưa thích của Mỹ nhằm bảo đảm một chiến thắng thông thường trong quá trình thực hiện nhiều khả năng sẽ gây đe dọa đến phần lớn kho vũ khí hạt nhân của Trung Quốc, cả trên bộ và trên biển. Việc liệu Mỹ có thực sự có ý đồ nhắm vào tất cả vũ khí hạt nhân của Trung Quốc hay không sẽ chỉ là thứ yếu. Điều quan trọng là ở chỗ các nhà lãnh đạo Trung Quốc sẽ cho rằng họ đang bị đe dọa.

180311-n-tc277-0076c_copy.jpg

Những bài học từ quá khứ

Đến lúc này, câu hỏi sẽ là Trung Quốc sẽ phản ứng như thế nào? Liệu nước này sẽ kiềm chế và kiên định cam kết “không sử dụng trước” ngay cả khi các lực lượng hạt nhân của họ có vẻ như đang bị tấn công hay không? Hoặc liệu nước này có dùng đến các vũ khí hạt nhân trên khi còn có thể, đánh cược rằng một sự leo thang hạn chế sẽ chặn đứng chiến dịch của Mỹ, nếu không thì cũng đe dọa để Washington phải xuống thang?

Các văn bản và tuyên bố của Trung Quốc vẫn mập mờ một cách có chủ ý ở điểm này. Vẫn không rõ chính xác là những năng lực nào được Trung Quốc coi là một phần trong lực lượng răn đe hạt nhân cốt lõi của mình và cái nào được xem là ít quan trọng hơn. Ví dụ, nếu Trung Quốc vốn đã công nhận rằng lực lượng răn đe hạt nhân đặt trên biển của nước này là tương đối nhỏ và yếu, thì việc mất một vài tàu ngầm tên lửa đạn đạo trong một cuộc chiến có thể sẽ không dẫn đến sự thay đổi bất thường cực đoan nào trong tính toán của Trung Quốc.

Điều nguy hiểm nằm ở chỗ những động thái thời chiến có thể làm thay đổi quan điểm của Trung Quốc về ý đồ của Mỹ. Nếu Bắc Kinh xem việc các lực lượng hạt nhân trên biển và trên bộ của mình dần bị xóa sổ là một ý đồ có tính toán nhằm phá hủy năng lực răn đe hạt nhân của Trung Quốc, hoặc thậm chí như khúc mở đầu cho một đòn tấn công hạt nhân, thì Trung Quốc có thể sẽ xem việc leo thang hạt nhân có giới hạn như một cách để buộc xung đột phải chấm dứt. Ví dụ, Trung Quốc có thể sử dụng vũ khí hạt nhân để nhất thời phá hủy những căn cứ không quân Mỹ đặt ra mối đe dọa lớn nhất đối với kho vũ khí hạt nhân của Trung Quốc. Trung Quốc cũng có thể sẽ tung ra đòn tấn công hạt nhân mà không cần mục đích quân sự trực tiếp – vào một khu vực không có người ở hoặc trên biển – như một cách phát đi tín hiệu rằng Mỹ đã vượt quá lằn ranh đỏ.

Mặc dù kịch bản leo thang như vậy nhìn thì có vẻ xa vời, nhưng lịch sử của Trung Quốc thì lại cho điều khác. Năm 1969, tình thế tương tự đã đưa Trung Quốc đến bờ vực chiến tranh hạt nhân với Liên Xô. Đầu tháng 3 năm đó, binh lính Trung Quốc phục kích lính biên phòng Liên Xô giữa lúc căng thẳng gia tăng xung quanh một khu vực biên giới tranh chấp. Chưa đầy 2 tuần sau, hai nước đã ở trong một cuộc chiến tranh biên giới không tuyên bố với pháo hạng nặng và máy bay. Cuộc xung đột nhanh chóng leo thang vượt ra khỏi những gì lãnh đạo Trung Quốc đã tưởng tượng và Moskva đã đưa ra những đe dọa hạt nhân để gây áp lực buộc Trung Quốc phải xuống thang.

Ban đầu các nhà lãnh đạo Trung Quốc bỏ qua những lời cảnh báo này, để rồi lại đẩy mức đánh giá đe dọa của mình lên một cách cực đoan sau khi họ biết được rằng Liên Xô đã bàn bạc riêng về các kế hoạch tấn công hạt nhân với các nước khác. Moskva không bao giờ có ý định theo đuổi đến cùng trong các đe dọa hạt nhân của mình, những tài liệu lưu trữ sau này đều cho thấy như vậy, nhưng các nhà lãnh đạo Trung Quốc lại cho là khác. Trong ba trường hợp riêng biệt, họ bị thuyết phục rằng một cuộc tấn công hạt nhân của Liên Xô đang sắp xảy ra. Một lần, khi Moskva cử đại diện đến đàm phán tại Bắc Kinh, Trung Quốc nghi ngờ rằng chiếc máy bay đang chở phái đoàn thực ra lại đang mang vũ khí hạt nhân. Ngày càng lo lắng, Trung Quốc cho bắn thử một vũ khí nhiệt hạch ở sa mạc Lop Nur và đưa lực lượng hạt nhân sơ khai của mình vào tình trạng báo động – bản thân đó cũng đã là một bước đi nguy hiểm, vì làm gia tăng nguy cơ phóng nhầm hoặc không được phê chuẩn. Chỉ sau rất nhiều lần chuẩn bị cho những cuộc tấn công hạt nhân vốn không bao giờ xảy ra của Liên Xô, cuối cùng Bắc Kinh mới chịu đàm phán.

Ngày nay Trung Quốc là một quốc gia đã khác với thời Mao Trạch Đông, nhưng cuộc xung đột năm 1969 vẫn để lại những bài học quan trọng. Trung Quốc đã bắt đầu một cuộc chiến mà trong đó nước này cho rằng vũ khí hạt nhân không có liên quan gì, mặc dù kho vũ khí hạt nhân của Liên Xô khi đó có quy mô lớn gấp nhiều lần của Trung Quốc, cũng giống như kho vũ khí hạt nhân của Mỹ vượt trội so với Trung Quốc bây giờ. Ngay khi cuộc chiến tranh thông thường không diễn ra như dự kiến, Trung Quốc đã đảo ngược đánh giá của mình về khả năng xảy ra tấn công hạt nhân lên mức độ gần như hoang tưởng. Đáng lo ngại nhất, Trung Quốc phát đi tín hiệu rằng nước này đang thực sự cân nhắc sử dụng vũ khí hạt nhân, mặc dù nước này dự kiến được những đòn đáp trả khủng khiếp. Các thông tin mơ hồ thời chiến và lối tư duy theo kiểu tình huống xấu nhất dẫn đến những nguy cơ hạt nhân mà mới chỉ vài tháng trước đó còn tưởng chừng như không thể nào hình dung nổi. Khuôn mẫu đó hoàn toàn có thể lặp lại ngày nay.

Cứ để họ mặc sức đoán

Cả Mỹ và Trung Quốc đều có thể tiến hành một số biện pháp cơ bản nhằm giảm bớt những mối nguy hiểm này. Đối thoại và trao đổi cởi mở hơn – chính thức và không chính thức, cấp cao và cấp sự vụ, quân sự và chính trị – có thể giúp xây dựng các mối quan hệ cho phép giảm căng thẳng bằng các kênh sau trong một cuộc xung đột. Hai nước đã có một đường dây nóng quân sự chính thức được triển khai, mặc dù nó không kết nối các nhà lãnh đạo chính trị. Một cơ sở hạ tầng chuyên biệt và đã được thử nghiệm dành cho các nhà lãnh đạo quân sự và chính trị cấp cao có thể tin tưởng và dễ dàng giao tiếp trong thời chiến ít nhất cũng sẽ mang lại một yếu tố kìm hãm leo thang khi xảy ra khủng hoảng.

Nhưng liên lạc tốt hơn thì cũng chỉ giải quyết được đến vậy đối với một vấn đề có căn nguyên từ học thuyết quân sự và chiến lược lớn. Trong bối cảnh điều lệnh tác chiến tiêu chuẩn của Mỹ nhiều khả năng sẽ dồn Trung Quốc vào chân tường về khía cạnh hạt nhân, điều lôgích là Washington cân nhắc các chiến lược thay thế để làm sao không động chạm đến các năng lực hạt nhân của Trung Quốc. Ví dụ, một số nhà phân tích đã đề xuất gây sức ép với Trung Quốc thông qua phong tỏa hải quân từ xa, và những người khác lại gợi ý giới hạn bất kỳ chiến dịch hải quân và không quân nào của Mỹ nằm ngoài phạm vi bờ biển của Trung Quốc. Mục tiêu trong cả hai trường hợp đều nhằm tránh các cuộc tấn công vào lục địa, nơi tập trung phần lớn lực lượng hạt nhân của Trung Quốc.

Vấn đề đối với các chiến lược thay thế này là lục địa cũng là nơi tập trung phần lớn các năng lực chiến tranh thông thường của Trung Quốc. Khó có chuyện Mỹ sẽ tự nguyện để yên cho các năng lực này, xuất phát từ ưu tiên của Mỹ là giảm tổn thất của bản thân và tiêu diệt lực lượng đối phương một cách nhanh chóng. Nếu Trung Quốc sử dụng các căn cứ ở lục địa của mình để phóng tên lửa đạn đạo vào binh sĩ Mỹ và đồng minh, thật khó có thể hình dung một tổng thống Mỹ lại đi ra lệnh cho quân đội kiềm chế nhằm tránh leo thang. Các đồng minh của Mỹ càng đặc biệt không bao giờ chấp nhận một cách tiếp cận thận trọng như vậy, vì họ sẽ còn hứng chịu sức mạnh quân sự của Trung Quốc chừng nào sức mạnh này còn chưa bị động đến. Không ai muốn một cuộc chiến tranh Mỹ-Trung đi đến mức hạt nhân, nhưng một chiến dịch quân sự của Mỹ để cho lực lượng thông thường của Trung Quốc biến Đài Loan – chứ chưa nói đến Nhật Bản hoặc Hàn Quốc – thành một đống đổ nát khói lửa chỉ để tránh leo thang thì khó có thể xem là một chiến thắng.

Tất nhiên, Bắc Kinh cũng có thể có những bước đi nhằm giảm bớt căng thẳng của vấn đề, nhưng điều này rất khó xảy ra. Trung Quốc đã lựa chọn lắp cả đầu đạn hạt nhân và thông thường lên cùng một loại tên lửa và đưa cả các lữ đoàn vũ khí thông thường và hạt nhân vào cùng một căn cứ. Nhiều khả năng Trung Quốc nhìn thấy lợi ích chiến lược nhất định trong sự gắn bó mật thiết này. Chính là vì những sự đan cài rắc rối này làm gia tăng khả năng leo thang hạt nhân, Trung Quốc có thể sẽ tin rằng chúng sẽ góp phần củng cố khả năng răn đe – và sẽ khiến cho Mỹ ngần ngại phát động chiến tranh ngay từ đầu.

Nhưng cũng như Trung Quốc hưởng lợi nếu Mỹ tin rằng sẽ không có cách an toàn nào để phát động chiến tranh, thì Mỹ cũng hưởng lợi nếu Trung Quốc tin rằng chiến tranh sẽ mang lại kết cục Trung Quốc không chỉ thất bại trong chiến tranh thông thường mà còn trong chiến tranh hạt nhân. Trên thực tế, Mỹ có thể tin rằng nỗi lo sợ này sẽ cho Mỹ lợi thế lớn hơn trong một cuộc xung đột và có lẽ sẽ ngăn chặn được Trung Quốc khởi đầu trước.

Nói ngắn gọn, có thể là không bên nào thấy có nhiều giá trị trong những bảo đảm hòa bình. Thậm chí là ngược lại: có khi cả hai còn đang ngấm ngầm cổ vũ bất ổn. Tuy nhiên nếu quả thật là như vậy thì các nhà lãnh đạo Mỹ và Trung Quốc cần nhận thấy những mặt được và mất ẩn chứa trong các chính sách mà họ lựa chọn. Nguy cơ leo thang (hạt nhân) có thể làm chiến tranh khó xảy ra hơn, nhưng đồng thời nó cũng lại khiến chiến tranh thực sự nguy hiểm hơn rất nhiều nếu thực sự xảy ra. Thực tế này khiến cho lãnh đạo cả hai bên thấy cần phải tìm kiếm những phương cách nhằm giải quyết các tranh chấp chính trị, quân sự và kinh tế mà không cần đến một cuộc chiến tranh có thể nhanh chóng leo thang thành thảm họa hủy diệt cả khu vực và thế giới.

Caitlin Talmadge

Trần Quang (gt)

* Caitlin Talmadge là Phó giáo sư Nghiên cứu An ninh trường Edmund A. Walsh, Đại học Georgetown. Bài viết được đăng trên Foreign Affairs.

Chủ tịch FED: “Kinh tế Mỹ đang rất tốt”

http://cafef.vn/chu-tich-fed-kinh-te-my-dang-rat-tot-20181115155049204.chn

Chủ tịch FED: “Kinh tế Mỹ đang rất tốt”

15-11-2018

Chủ tịch FED: “Kinh tế Mỹ đang rất tốt”

“Chính sách của chúng tôi là một phần lý do vì sao mà nền kinh tế của chúng ta lại đang tốt đến như vậy”, ông Powell nói…

Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) Jerome Powell ngày 14/11 bày tỏ tin tưởng vào sức mạnh kinh tế Mỹ và nói rằng thị trường sẽ phải quen với ý nghĩ rằng từ năm 2019 trở đi, FED có thể nâng lãi suất bất kỳ lúc nào.

Theo hãng tin CNBC, trong một buổi hỏi và trả lời câu hỏi ở Dallas, ông Powell thừa nhận rằng nền kinh tế toàn cầu hiện nay không tăng trưởng với tốc độ được như năm ngoái. Tuy nhiên, ông nói rằng bức tranh kinh tế Mỹ đang tốt. Ông miêu tả bức tranh kinh tế toàn cầu là tốc độ tăng trưởng đang "giảm dần một chút", nhưng nói đó "không phải là sự giảm tốc tồi tệ".

"Tôi rất vui về tình trạng của nền kinh tế Mỹ hiện nay", ông Powell nói. "Chính sách của chúng tôi là một phần lý do vì sao mà nền kinh tế của chúng ta lại đang tốt đến như vậy".

Sự tin tưởng của ông Powell vào sức khỏe kinh tế Mỹ đã biến thành cam kết của ngân hàng trung ương này về tiếp tục nâng lãi suất với tốc độ từ tốn. Năm nay, FED đã có 3 đợt nâng lãi suất, mỗi lần tăng 0,25 điểm phần trăm, và lần nâng thứ tư trong năm dự kiến sẽ diễn ra vào tháng 12.

Ông Powell đã đối mặt với một số chỉ trích về chính sách của FED. Trong đó, Tổng thống Donald Trump đã nhiều lần nói việc FED nâng lãi suất chính là nguy cơ lớn nhất đối với tăng trưởng kinh tế Mỹ hiện nay.

Tuy nhiên, ông Powell đã tránh bị cuốn vào một cuộc tranh cãi công khai với ông chủ Nhà Trắng. Thay vào đó, ông giữ vững quan điểm là FED độc lập và sẽ tiếp tục làm những gì mà FED cho là tốt nhất để đảm bảo hai mục tiêu là vừa duy trì tăng trưởng kinh tế, vừa giữ lạm phát ổn định và đảm bảo ổn định thị trường tài chính.

"Chúng tôi có một nhiệm vụ rất quan trọng mà Quốc hội đã giao phó: phục vụ người dân", ông Powell nói. "Đó là trọng tâm duy nhất của chúng tôi. Chúng tôi không cố kiểm soát những thứ mà chúng tôi không kiểm soát. Chúng tôi chỉ cố kiểm soát những thứ có thể kiểm soát. Chúng tôi chỉ làm công việc của mình và chúng tôi đang làm tốt".

Trong sự kiện ở Dallas, ông Powell không hề có phát biểu nào nhằm kiềm chế kỳ vọng lãi suất tiếp tục tăng. Thay vào đó, ông nói rằng trong năm 2019, nhà đầu tư nên biết rằng việc FED nâng lãi suất hàng quý sẽ không còn là "thông lệ" nữa, mà việc nâng lãi suất có thể diễn ra ở bất kỳ lần họp nào.

Mặc dù vậy, ông Powell nói FED sẽ tiếp tục theo dõi các diễn biến của thị trường tài chính để đưa ra những quyết định lãi suất phù hợp.

"Chúng tôi sẽ phải nghĩ đến việc nâng lãi suất thêm bao nhiêu, với tiến độ như thế nào", ông nói. "Để làm được điều đó, chúng tôi sẽ theo đõi thực sự cẩn trọng sự tương tác giữa thị trường và nền kinh tế với chính sách của chúng tôi".

Khi được hỏi về biến động của thị trường tài chính Mỹ thời gian gần đây, ông Powell nói giá cổ phiếu chỉ là "một trong nhiều yếu tố" mà FED dựa vào để đánh giá nền kinh tế.

Từ đầu năm đến nay, kinh tế Mỹ tăng trưởng với tốc độ trên 3%. Theo dự báo, nền kinh tế lớn nhất thế giới sẽ tiếp tục tăng trưởng với tốc độ tương tự trong quý 4. Trong khi đó, nhiều nền kinh tế lớn khác của thế giới đang tăng trưởng yếu đi, khiến tăng trưởng đồng đều – một câu chuyện của năm 2017 – không còn là câu chuyện của năm 2018.

"Sứ mệnh của chúng tôi là vì các điều kiện kinhh tế Mỹ: giá cả ổn định, việc làm tối đa và ổn định tài chính, nhưng những gì xảy ra trên thế giới cũng thực sự quan trọng", ông Powell nói. "Một nền kinh tế Mỹ tốt sẽ tốt cho kinh tế toàn cầu".

Vị Chủ tịch FED cũng tiếp tục bày tỏ mối lo về tình hình tài khóa hiện nay của Mỹ, khi nợ công và thâm hụt ngân sách tiếp tục tăng. Trong đó, nợ quốc gia Mỹ đã vượt ngưỡng 21 nghìn tỷ USD, còn thâm hụt ngân sách đang tiến tới mốc 1 nghìn tỷ USD mỗi năm.

Theo An Huy

VnEconomy